|
|
Nước Mỹ buồn hiu, có thể nói đây là một viễn cảnh tồi tệ đứng thứ hai sau ngày 11 tây tháng 9/. Kể từ mấy tuần qua, đường phố ở Mỹ trở nên vắng lặng hơn, chúng tôi chú ý thấy các bãi đậu xe của các siêu thị, các mall đều thưa dần, đường xá ghi nhận tại tiểu Bang Michigan cũng như California cảnh xe cộ chen lấn nhau không còn như xưa nữa, các bãi đậu xe tại các công xưởng thưa thớt rất nhiều vì công nhân nhân viên bị "lay off". Nước Mỹ Buồn Hiu
Nhạc trưởng vui tánh. Đoạn phim video nầy quay lại cảnh một nhạc trưởng Mỹ trong đoàn nhạc KènTúi chào mừng ngày tổng thống Obama nhậm chức.
Đã lâu lắm rồi, kể từ cái tết năm con Chuột, hai thằng xa nhau. Hôm nay, rảnh môt chút mình gọi điện thăm nó. Dây bắt miệng mừng, nói chuyện quá cỡ. Sau phút hỏi han nhau về học hành rồi đến công việc làm ăn, Sơn thở dài trả lời, "Mấy năm trước, những ngày cận tết, công nhân trong các khu công nghiệp đổ ra quầy thuốc của mình, họ mua thuốc bổ ngâm rượu để gửi về quê (miền Bắc) cho ba má của họ uống, nhiều công nhân ra quầy thuốc của mình để châm cứu đau lưng nhức mõi.. , năm rồi tổng số tiền thu được trong những ngày cuối năm vào dịp nầy lên đến mười mấy triệu, chỉ vài ngày thôi. Năm nay chẳng thấy ai đến, vắng như chùa Bà Đanh".
|
Thảo Anh (Văn - ĐH Tây Nguyên)
Khi nó được hai tuổi, bị một cơn sốt ré hành hạ, nhà nghèo không có tiền chạy chữa, mẹ nó bỏ hai ba con nó ra đi. Mẹ thường lấy củi, đốt than hàng tuần trong rừng mới về nên khi thấy mọi người khiêng mẹ đi, nó mếu máo, bập bệu: "Mẹ ơi" rồi chờ đợi mẹ về với nó. Nó lớn lên trong vòng tay thương yêu của ba của bà con xóm. Nó hiểu rằng mẹ sẽ không bao giờ trở về với ba nó. Mọi tình thương nó chỉ biết dành cho ba.
Một lần đi rừng, ba bắt về con vẹt con. Ba kể rằng vì con vẹt mà xém nữa rớt xuống suối. Ba chăm con vẹt lắm, ba nuôi con vẹt trong lồng và dạy con vẹt tập nói. Một lần, vì quá ham chơi bị ba nhốt phạt nó trong nhà. Tù túng, nó nhìn con vẹt, nó tưởng tượng con vẹt giống nó lúc này. Nó đỡ lồng chim xuống, thả tự do cho con vẹt. Ba đi làm về. Không thấy con vẹt nên đánh nó một trận. Buồn, nó ra gốc ổi ngồi khóc thầm "Mẹ ơi!". Chiều, con vẹt bay về luôn miệng ngọi "Mẹ ơi, mẹ ơi!" Ba nó thoáng buồn, rồi ôm nó chặt vào lòng và thủ thỉ: "Con trai, hãy tha lỗi cho ba"./. |
Quê Buồn Thu Nguyệt Vẫn dòng sông bình lặng chảy Lục bình bãng lãng phiêu du Bông tím bạc màu hơn trước ? Vàng khô chùm trái trâm bầu
Thỉnh thoảng đôi lần trở lại Cánh cò bay lẻ ngu ngơ ? Trời xanh vẫn xanh như cũ ? Đường xa bụi giống bây giờ ?
Mẹ ai tưới hàng dâm bụt Đất nồng bốc khói trong trưa Khom lưng nhặt vài lá rụng Áo màu giống mẹ tôi xưa
Mái cũ rêu dày xanh mướt Sân buồn đàn kiến hồi hương Nửa mảnh gáo dừa đọng nước Soi gương chú nhện sau vườn
Bóng xoài ba tôi mắc võng Sáng chiều hai hướng chờ trông Con ở thị thành nắng bỏng Bóng xoài mát đến con không ?
Vỡ òa bước chân trẻ dại Tôi quỳ khóc với rơm khô Cổ tích từ xưa kể lại: Còn đây một dấu chân cò
Thu Nguyệt (Khánh Hòa) |
(Phiếm luận của Nguyễn Thành Phong)
Đầu năm nói chuyện với trâu, bà chuyện hối lộ ngày nay.
Hối lộ: Một cụm từ, một hành vi đã từng xuất hiện từ khi có mặt con người trên trái đất. Tiền hối lộ là đồng tiền dễ xài nhứt, bởi kẻ "bị" nhận tiền đâu có phải đổ mồ hôi sôi nước mắt đâu mà sợ, của trên trời rơi xuống rất an toàn. Không bằng chứng .. không đóng thuế chỉ nhận và nhận mà thôi.
Biết vậy, ông nội của tui lúc nào cũng mặc một bộ đồ bà-ba có cả thảy bốn cái túi bự chà bá lửa. hai cái đằng trước hai cái đằng sau lưng. Mỗi khi ra đồng là ổng mặc bộ đồ côm-lê nầy vào, hy vọng một ngày nào đó sẽ có người bỏ vô túi hằng triệu đôla chứ phải chơi.
Há há, năm nầy qua năm khác, bán mặt cho đất bán lưng cho trời ông nội tui đợi hoài mà chả thấy có ma nào bỏ đồng Mỹ kim, Anh kim lớn bé vô túi hết.
Tui buồn lòng chẳng hiểu ra sao bèn đến hỏi con trâu của tui đang nằm nghĩ trong bóng mát lúc nó đang nằm nhai lại mớ cỏ trong miệng. Tui bèn hỏi con trâu "Nè mầy Trâu tao không hiểu hối lộ là sao, mà sao ông của tao nói là sẽ có kẻ hối lộ ổng và sẽ có ai đó liều thân nhét tiền Mỹ kim, Anh kim vô túi của ổng, cho đến nay tao đâu có thấy ma nào hối lộ hết vậy mậy?".
Con trâu nghe tui hỏi nó cười quá ể, cười lăn đùng ra cho đến độ va hàm răng vô gốc tre gãy mất mấy cái. Nó nói "Tao tưởng tao là thằng ngu nhứt trên đời rồi đó chứ, thành ngữ 'Ngu như trâu' mà bọn Con người tụi bây thường nói mỗi khi muốn ám chỉ kẻ nào đó chỉ 'biết sử dụng nguyên si khối óc mà Thượng Ðế ban cho không hề biết mài giũa, hôm nay tao thấy mầy là loại người đó. Quả thật mầy còn ngu hơn tao nữa. Nghe đây đồ cái con người ngu si đần độn kia. Muốn nhận hối lộ thì mầy phải làm quan, có quyền có chức mới có kẻ đến hối lộ Mỹ kim, Anh kim cho mầy, chứ cái thằng ông nội của mầy là nông dân quyền hành đâu không ai thèm đếm xỉa tới huống hồn gì mà hối lộ chứ hả. Chim nó cũng chẳng thèm ỉa cục cứt vô trong túi chứ đừng có mong chờ ai bỏ Mỹ kim, Anh kim vô trong đó."
Tui nghe nói vậy bèn ngớ người ra làm con trâu hí hững nói tiếp "Mà mầy biết không tiền hối lộ là tiền dễ xài nhứt bởi nó có nguồn gốc đâu mà truy, chẳng lẽ quan nhận hối lộ dám đứng ra cho mầy chụp ảnh mà trên tay còn cầm sắp giấy bạc à. Mầy phải đi cửa sau, phải biết chuyển ngân, phải biến hoá giải hư thành thật, và thật thành hư như vậy quan mới dám nhận, nhận tiền hối lộ ra mặt thì chỉ có 'lạy ông tui ở bụi nầy' sao được mậy. Hiểu chưa đồ cái kẻ 'ngu hơn Trâu'?"
Tui nghe con Trâu nhà mình nói vậy thấy chí lý quá, một hôm đem chuyện nầy học lại với thằng bạn thân cho vui. Bạn bè chơi với nhau được vài hôm thì nó xin được Ấn của nhà Vua rời khỏi An Nam rồi sang xứ Tây mất biệt luôn.
Ngày qua ngày tui quên mất cái chuyện nầy, cứ ra đồng mà làm ruộng, thế rồi đùng một cái, hôm bữa nó về ghé thăm tui, câu đầu tiên nó chào "Cảm ơn, cảm ơn, ân nhân, ân nhân cứu mạng". Tui hết hồn như từ trên cây cao xiêng té xuống đất vậy. Tui hỏi "Bộ mầy khùng tới nơi hay sao mà nói nhảm vậy cái thằng cha nội?". Nó đáp "Tao mà không nhờ mầy kể câu chuyện 'Ngu hơn Trâu' của mầy thì giờ nầy làm gì có chuyện tao được ấn Vua cho đi Tây. "Thế rồi tui và nó quay ngược dòng thời gian và câu chuyện bắt đầu xuất hiện như vừa mới xãy ra.
Mầy biết không! trước khi rời khỏi An Nam đi Tây, mầy phải khai lý lịch cá nhơn để làm thủ tục cấp giấy thông hành của nhà Vua. Khi mầy ra ngoài cửa quan đầu tiên, cửa quan xã để xin dấu ấn, họ nhận thấy 'có chuyện xài rồi' thì họ bắt đầu làm khó. Nào là khai chưa rõ, nào là ông nội của mầy sinh ngày chưa đúng nói chung vân vân và vân vân..., toàn là những chuyện bất trắc 'về làm lại' không hà! sau khi tao nghe câu chuyện của mầy, bữa sáng sớm hôm sau, cũng mấy cái tờ lý lịch đó tao đem ra trình cho Quan lớn nhưng lần nầy phía dưới mỗi từ khai tao đều có kèm theo một trăm ngàn đồng tờ giấy đỏ. Quan lớn thấy vậy cười với tao ký lia ký liạ, còn nói 'còn cái nào không đem cho anh chơi hết luôn, ngày mai anh còn phải về Huyện không rãnh đâu nhé'. Thế là tao thoát nạn, mầy thấy không. Ðồng tiền đi trước là đồng tiền khôn! là vậy đó. Chưa hết đâu mầy, khi tao về đến cổng hải quan, tao trình giấy thông hành đã từng có dấu ấn của Vua, quan ở cửa hải quan hỏi tao biết bao là điều dẫn đến bế tắt... tao mới nói với quan 'Dạ ông đưa cho em xem lại giấy thông hành, thế là tao dúi vào đó 5 Mỹ kim cho mỗi cái giấy thông hành, mầy biết không, chổ ngồi của quan kín lắm chỉ có mầy và quan biết thôi. Quan cầm ba giấy thông hành xem lại để xuống bàn, cái mặt bàn được thiết kê sâu lắm mầy có ngướng cổ cũng chẳng thấy mặt bàn, vả lại ở đây là phòng an ninh, không hề có ca-mê-ra quay, toàn là trống trơn trên trần, bọn nhà 'pấu' cũng chẳng phép nào lên đây được. Quan cầm 3 tờ thông hành của tao mặt tươi hẳn lên rồi nói, ở trời Tây vui chứ hả? tui bèn nói cho qua chuyện mang tính thủ tục và cũng 'đồng hành' với quan cho mọi người khỏi sinh nghi. Nghi cái gì ai cũng làm y chan như tao vậy đó mầy ơi .. . 'Cả hai đều có lợi' hết chứ. Mầy được quan cho qua Ải còn quan của nhà Vua được qua... 'chi'.. mỗi thông hành là 5 Mỹ kim mỗi ngày bao nhiêu đợt như vậy hả mậy? sướng quá còn gì. Tiền nầy chỉ có ông Trời và ông Trưởng biết thôi.. Ðó là chuyện nhỏ, còn chuyện lớn thì mầy cứ đó mà nhân lên gấp trăm gấp ngàn hoặc gấp triệu lần, lớn như cây cầu vừa bị gãy thì nhơn lên thành tỷ còn dốt nát thì đừng nhơn gì hết, cứ đứng đó như trời trồng người ta nói sao thì nghe vậy nhé. Sự thật đấy!."
Tui nghe câu chuyện sao mà vòng vo tam quốc quá bèn thở phào. Ðúng con trâu còn khôn hơn con người của tui đầy ngu muội và dốt nát nầy. Tui viết tới đây mà vẫn chưa hiểu hết câu chuyện hy vọng đừng có ai ngô nghê như tui thì quả là xấu mặt xấu mỏ.
Câu chuyện chưa dứt mà thằng bạn tui giựt mình nẩy người nó nói. "Mầy nghe rồi bỏ ngoài tai, chứ kể đi kể lại là tao toi mạng đấy nhé."
Tui an ủi thằng bạn của mình "Xin đừng sợ ở đời muôn sự của chung chỉ có... hối lộ là của riêng thôi cha nội, há há".
Tui nhớ hoài lời dạy con Trâu của tui rằng trên đời nầy ai cũng biết hết, duy có điều có kẻ biết mà không muốn nghe vì nghe là bất lợi, có kẻ biết mà dám bầy tỏ vì bức xúc trong lòng. Con Trâu của tui còn trích dẫn lời của Ðức Khổng Tử nói rằng "Nói đúng lời mà Không đúng Người là mất lời. Nói đúng người mà không đúng lời là mất người".
Tui bèn 'nhả đạn phản pháo' với con trâu của tui cho vui rằng "Nói đúng lời mà không đúng người là .... mất mạng trâu ơi!".
Tui là kẻ khù khờ nói bâng quơ chút chút cho vui, quý vị nào đọc phải thấy bài viết nầy quá ngô nghê thì chớ có chê trách tui là kẻ ngổn ngáo nhé. Ðôi khi con Trâu còn biết nhận diện vấn đề, còn con Người thì KHÔNG . "Ngu si đần độn phi tâm lời" là vậy đó. |
|
Tiên đánh cờ
Ngày xưa, có một người con trai tên là Hiếu, cha làm nghề đốn củi bị cọp tha mất, còn một mẹ già với mấy em dại, Hiếu phải ngày ngày đi vào rừng, làm lụng khó nhọc để nuôi mẹ và các em. Một buổi chiều đông giá rét, Hiếu đang gánh hai bó củi nặng ở rừng về, đến một lối quanh, trông thấy một người nằm như chết bên đường. Hiếu đỡ lên thì thấy một ông lão cóng người vì đói rét, sờ ngực hãy còn thoi thóp, bèn cõng về nhà. Mẹ con tận tình săn sóc cho ông lão tỉnh dậy và nuôi nấng khách cho đến khi mạnh hẳn, mặc dù trong nhà hết sức túng thiếu. Đêm hôm trước ngày từ giã, ông lão gọi Hiếu mà bảo rằng:
Đáp lại lòng tốt của nhà này đối với lão trong lúc hoạn nạn, lão tiết lộ thiên cơ cho biết rằng Sổ Tử của Thiên Tào đã có ghi tên anh năm nay phải chết. Anh muốn thoát khỏi thì hãy nhớ theo lời lão dặn đây: "Ngày mồng một tháng tới, anh nhớ dậy thật sớm, mang theo một bầu rượu với hai cái chén, qua khỏi khu rừng này, nhắm mặt trời mọc mà đi đến một nơi có hồ xanh ngắt rồi trèo lên núi, vòng trái ngọn thác, lên tới đỉnh, thì thấy hai ông tiên ngồi đánh cờ. Anh phải lặng lẽ tới gần, chờ khi nào họ gọi rượu uống thì anh rót rượu đưa ra, rồi đợi hai ông tiên đánh cờ xong hẵng thưa chuyện xin xóa tên anh trong Sổ Tử".
Sáng hôm sau, Hiếu nhận thấy ông lão đã biến đâu mất. Đến ngày mồng một, trời chưa sáng, Hiếu đã đeo bầu rượu, cầm hai chén tống ra đi. Qua khỏi khu rừng, Hiếu đi theo một con đường mới, nhắm theo hướng mặt trời đi đến một cái hồ nước xanh leo lẻo. Trong khu rừng đưa đến chân núi, lần đầu tiên Hiếu được nghe những tiếng chim hót thánh thót như nhạc, rồi đi được một quãng, vẳng nghe tiếng thác đổ xa xa. Hiếu lần đi về phía này, vòng trái thác nước, rồi đến ven rừng, trước một cảnh núi non kỳ tú và chan hòa ánh sáng. Dưới tàn bóng cây thông, hai ông lão tiên phong đạo cốt vận áo xanh, áo đỏ đang ngồi xếp bàn tròn đánh cờ trên một bàn đá phẳng lì. Hai ông lão lặng lẽ đánh cờ, tính toán kỹ từng nước, từng lúc sẽ nghiêng mình để đi một nước cờ, chòm râu dài bạc trắng phất phới lướt qua đám quân cờ son. Hiếu đứng lặng đợi chờ, để ý nhìn thấy một cuốn sách lớn gấp lại bên cạnh ông áo xanh. Một lúc lâu, ông lão áo xanh mắt vẫn không rời khỏi bàn cờ, cất tiếng gọi: "Rượu đâu"! Hiếu vội vàng rót đầy hai chén rượu bưng đưa ngang tầm tay hai ông lão. Cả hai nhấc chén uống cạn, mải mê theo nước cờ đi. Hiếu dâng rượu ba lần như vậy. Đến khi xong ván cờ, ông lão áo đổ thắng cuộc ngước mắt lên, Hiếu vội vàng sụp xuống lạy mà thưa rằng:
"Muôn lạy tiên ông, xin tiên ông cứu độ cho con khỏi chết, vì con còn mẹ già yếu khôn ai nuôi dưỡng. Cúi xin tiên ông cứu cho con được sống thêm vài năm nữa, cho các em con khôn lớn lên có thể thay thế con mà nuôi dưỡng mẹ già thì con có chết cũng vui lòng."
Ông lão áo đỏ nghiêng mình nói nhỏ với ông lão áo xanh. Ông này mở cuốn sách ra cầm bút chữa lại một chữ, rồi bảo Hiếu rằng:
"Anh đã khéo léo mời chúng ta uống rượu của anh, anh lại là một đứa con có hiếu, anh còn giúp người lúc hoạn nạn, nên ta vui lòng sửa lại số mạng của anh được sống lâu cho đến trăm tuổi".
Hiếu vẫn quỳ mọp, chưa kịp ngỏ lời cảm tạ, bỗng nghe thấy gió thổi trên đầu, ngước mắt lên, không còn thấy hai ông tiên đâu nữa. Trên đường về, Hiếu vừa đi vừa chạy, trong lòng mừng rỡ vô hạn, song không dám kể chuyện lại cho ai hay, ngay đối với mẹ cũng vậy. Về sau có lần Hiếu trở lại hòn núi, tìm thấy lại hồ nhưng nước không còn xanh nữa, trong rừng không còn nghe tiếng chim hót như rót nhạc. Qua ngọn thác, vẫn thấy tàn cây thông in bóng trên bàn thạch, nhưng Hiếu không còn tìm đâu ra bàn cờ son của hai ông tiên./. |
(Truyện Ngắn Của NguyễnThànhPhong) Nói tới ông Tám vườn cau, người dân ở khu vực Cầu Cụt, Nhị Bình Hốc môn ai cũng ngán. Là một quan chức ấp và cũng là chủ một khu vườn rộng lớn, quanh năm cây trái um tùm xum xuê, mùa thuận cũng như mùa nghịch. Vào những tháng cuối năm, ai cũng ‘chạy nước rút’ cho mấy ngày tết. kẻ giàu thì lo chuẩn bị từ xa để ăn tết lớn, cho chu đáo chuyện lễ nghĩa. Người bình dân thì cận tết mới lo. Còn kẻ nghèo hèn thì dịp tết là một nỗi lo sợ, bởi trong năm làm được đồng nào thì ‘xào’ đồng nấy, dịp tết ai thuê ai mướn thì tiền đâu mà mua gạo đắp đổi, đối với họ chỉ còn cách đi…ăn trộm cái cho xong, và điều nầy làm ông Tám ghét nhứt hạng. Đêm nào ông cũng rình rập ‘bọn xấu’ mãi cho tới nửa đêm mới về nhà ngã lưng, nhưng rồi ngày nào ông cũng phát hiện ra có kẻ vào trộm vườn ông hái cắp trái cây, khi thì vài buồng chuối khi thì vài muôn cau. Ông Tám tức tối muốn điên lên. Ông lẩm bẩm ‘tổ cha mầy, bọn cô hồn các đản cúng vài ba nắm cơm với muối là xong còn bọn nầy biết sao, tao mà bắt được mầy là tao đập cho mầy một trận có nước mà gãy lưng”.Tết càng đến gần, ông Tám càng bận bịu việc trong lẫn việc ngoài vườn, bọn trộm trạo càng hoành hành vì nghèo túng quá, làm ông tức mỗI lúc một nhiều hơn. Ông nói ‘cá lóc tróc một vảy không sao, đằng nầy tróc hết cả lưng còn gì’, càng biện minh cho ông, ông càng thù oán bọn trộm vườn ông ông bấy nhiêu. Bị đánh cắp nhiều lần ông sinh nghi’làm sao chúng biết được cây cau nào có buồng sai, sắp dầy mà bẽ? Bị đánh cắp nhiều lần ông sinh nghi “làm sao chúng biết được cây cau nào có buồng sai, sắp dầy mà bẻ? ban ngày trong vườn đã tối ban đêm lại còn tối hơn thì làm sao chúng đóan được, chỉ có cách là ban ngày chúng làm dấu để ban đêm mò vô mà bẻ trộm”. Quà là không trật chút nào, ông phát hiện ra một số cây cau có trét sình ở gốc thì trên ngọn tòan là cây có buồng sai, sắp dầy. Thế rồi đêm hôm đó…, đêm hôm đó…. Còn nhớ đêm hôm đó là đêm 23 âm lịch. Trời đất tối tăm như mực, trong vườn trời còn tối hơn biết chừng nào. Ông Tám cẩn thận mặc nguyên một bộ đồ đen, tay lườm lườm cái mác nhọn hoắc, bén sắc lẻm trên tay. Đây là con dao có cáng dài bằng một sải tay, trên đầu là một lưỡi dao nhọn có hình thù gần giống như chiếc lá, ông lần mò đến cây cao có dấu hiệu khả nghi. Ông ngồI bất động trong đêm khuya khoắc, một mình trong bụi dứa để mặc cho muỗi mòng nó cắn, ông ngồi im như một bức tượng hằng mấy giờ liền mà chẳng thấy gì trong bóng đêm tĩnh mịt, thật là chán nản, ông định vói tay lấy bịch thuốc rê quấn một điếu thì kìa … trước mặt ông lúp ló hai cái bóng đen, bọn xấu xuất hiện đây rồi, chúng đi lom khom chân bước cao để tránh đạp phải lá cây gây tiếng động rào rạc, chúng tiến thẳng về hướng ông, rồi ngừng lại lấy tay vò gốc cây cau, chúng rù rì gì đó bên tai nhau rồi một trong hai biến mất.
Hai tên trộm thiệt rồi! ông Tám run người lên, miệng mồm của ông nước bọt không nấu mà nó cứ sô sòng sọc. Ông quan sát thật kỹ thằng ở lại, nó cuối người xuống tròng chiếc nài vào chân, hai tay vòng ôm lấy cây cau nhẹ nhàng thót lên từng bước, từng bước rồi khuất trong tầm lá thấp bị che kín hơn phân nửa bên dưới của cây cau. Lật đật ông bò đến gốc cây cau nầy rồi cắm ngược cái mác xuống đất, cái cáng vùi xuống đất, lưỡi mác chĩa nhọn lên trời, ngay cái chổ mà tên trộm vừa leo lên, ông vội vàng bò nhanh về chổ cũ ẩn nấp quan sát, không dầy bốn phút sau thằng ăn trộm bẻ được buồng cau, vắt bên cánh tay phải, rồi vội vã tuột xuống, nó tuột xuống từng chặng, từng chặng cuối cùng gần cách mặt đất hơn một mét nó nhảy ngược xuống. Ông Tám quan sát từng động tác “xẹc … ự!” rồi, nó ngồi ngay trên lưỡi mác rồi, Ông Tám nghe nó rên một tiếng “ư” rồi hai tiếng “ư .. ư” nó lay hoay vài vòng trên cái mác rồi gục đầu vào gốc cây cau, bất động. Khỏang năm phút sau, có một bóng đen nữa xuất hiện, có lẽ là bạn của nó hồi nảy, đến rờ vai nó “mầy làm gì mà ngồi đây, vác buồng cau chạy theo tao”. Nó mò mẫm thằng bạn, rồi thốt lên :mầy chết rồi sao? Trời!” . Nó xoay lưng khom người lại, hai tay nó ôm lấy hai bàn tay thằng bạn nó quàng qua vai kéo về phía trước ngực, nó cố gượng người đứng dậy mấy lần để cõng thằng bạn lên, nhưng dường như có cái gì ở dưới đất níu lại, nó cố gắn lắm và lần nầy nó mới “nhổ” thằng bạn nó lên được rồi. Cái bóng đen nầy cõng cái bóng đen kia lom khom, lê lết rồi biến mất trong đám lá đen sừng sửng ngay phía trước mặt ông . Vào giấc trưa ngày 26 âm lịch, trờI khá nắng, trong vườn và trong sân lốm đốm bóng râm in dưới đất, gió thổI ròa rào trong không khí tĩnh lặng của khu vườn thật là dịu mát và bình yên, bà Tám hai tay bưng cái dần nhỏ đãi thóc nấu cơm, trong không khí thanh vắng, bà nghe có tiếng lạ, hình như là tiếng rên khe khẻ của ai đó “hư .. hư .. hư “ bà Tám kéo cặp kiếng lão xuống chóp mũi để quan sát bằng mắt thật và ngay ở đằng kia là một người đàn ông đang đi từng bước tiến sâu vào nhà của bà, người đàn ông xanh xao tìu tụy, mặt không còn một chút máu, ông ấy đi trong tư thế cuối người xuống khòm về phía trước, vừa đi vừa rên khe khẻ “ư .. ư .. ư.., thương con với bà Tám ơi, đói quá .. vợ con đau bụng chuyển dạ sắp sinh con ..” bà Tám bật dậy “ vô đây .. vợ con đang ở đâu … !” bà chưa kịp hỏi xong thì người đàn ông kia xoay người, bà Tám nhìn thấy mà hãi hùng, ở dưới đít của người đàn ông đang kêu cứu kia máu đang chảy ròng ròng, hình như có cái cáng dao đâm sâu vào đit nó, bà nhìn kỹ “cái mác của mình” bà thét lên, “ông ơi ra coi nè” ông Tám chạy ra ôm lấy bà Tám tay chân run rẩy miệng nói ấp a ấp úng cái gì không nên lời, chỉ trừ mấy chữ “cái.. cái..mác của mình đâu ông?” Ông Tám biết có chuyện chẳng lành vội vả ôm bà Tám vô nhà thì thào cái gì đó lâu lắm, đọan sau đó hai người đóng cửa lại “ầm, ầm”. Không quá nửa giờ đồng hồ sau, bà Tám bước ra ngoài sân, tay cầm bó nhang nghi ngút khói mà vái lạy lia lịa miệng lẩm bẩm “bà Tám thương con, thương con”. Bà đóng cửa trước lại rồi ra đằng sau giếng múc gáo nước rửa mặt, và kìa .. .. nó .. nó .. nữa kìa. Bà Tám định mở miệng an ủi thì người đàn ông kia nói “vợ ..của con … đẻ .. khó … … nó … chết rồi … mẹ ơi….” Rồi người đàn ông nầy biến mất. Mấy ngày sau đó, người ta truy hô lên là trong làng gần cây Cầu Cụt có một xác chết, nhà chức trách có mặt tại chổ, họ phát hiện ra nạn nhân bị một con dao có cái cáng dài đâm sâu từ hậu môn lên đến tận cổ, đã chết cách đó gần bốn ngày. Dân làng xúm xít xa gần chạy đến nhận diện, hóa ra đây chính là ông Nghèo, chồng của bà Khó, người ta bèn đến báo tin cho người đàn bà xấu số nầy, đến nhà người ta phát hiện ra bà Khó cũng đã chết lúc đang trong tình trạng sinh con. Trước cảnh khốn cùng, nhà chức trách địa phương ra ý chỉ kêu gọi người dân đứng ra mai táng cho gia đình tội nghiệp nầy. Người đứng đầu kêu gọi chính là ông Lên Văn Tám, người giàu nhứt vùng Cầu Cụt nầy đứng ra điều khiển. Ngày 30 tết, con cái về tề tụ khắp nơi để thăm viếng, nhưng ông Tám vẫn không vui lắm. Hôm sau Mùng Một tết, thằng con trưởng đứng ra thay mặt anh em nói lời đầu xuân “Con đại diện cho năm anh em con cầu chúc bố mẹ một năm mới bình an, sống thọ với con cái, năm anh em trai chúng con xin quỳ lạy bố mẹ một lạy năm mới đầy lòng biết ơn vì đã sinh thành ra chúng con, dạy chúng con nên người”. Tiếng pháo nổ dòn giòn giã, xua tan mọi thứ, ông Tám nở nụ cười héo hon vì chí nh ông biết rằng ông có cả thảy sáu người con, người con gái bị đẻ khó mà chết kia chính là giọt máu thật của ông, đứa con rơi của ông, kẻ trộm mà ông giết hại kia là thằng rể của ông nó nghèo quá, vì thương vợ cảnh nghèo túng, vì tết đến .. . mà sanh ra cảnh trộm cắp rồi chết một cách tức tưởi. *nguyễnthànhphong* Câu chuyện trên đây mặc dù đã xãy ra hơn nửa thế kỷ rồi nhưng chúng tôi, người viết bài nầy, đã đổi tên của các nhân vật trong truyện vì tính an nguy cho người cầm bút và cũng lắm điều tế nhị, vì dẫu gì quý vị, những người hậu duệ của “ông Tám” không muốn nhắc lại cảnh đau lòng của quá khứ vốn một thời không hay. |
|
Tôi ao ước có được một chiếc xe đạp nhỏ để đi chơi, và niềm vui đó đến ngay ngày sinh nhựt của mình.
Một lần, đạp xe ra công viên dạo chơi, tôi thấy có một thằng bé cứ đứng quanh quẩn dòm ngó chiếc xe của tôi với vẻ thích thú và khoái chí lắm. Nó săm soi rồi hỏi tôi.
"Bộ chiếc xe nầy của bạn hả?"
Tôi trả lời ngon ơ.
"Anh trai của mình tặng cho mình nhân dịp sinh nhựt của mình đó chứ!" Tôi trả lời không giấu chút tự hào và mãn nguyện lắm.
"Ồ ước gì mình ... !"
Thằng bé ngập ngừng một chút, dĩ nhiên là mình biết nó ước gì rồi. Chắc chắn thằng nhóc nó cũng muốn có một người anh như thế. Nhưng không, tôi quả thật bất ngờ khi nghe một câu nói của thằng bé thốt ra với tôi rằng.
"Ước gì mình có thể trở thành một người anh như thế"
Thằng bé nói chẫm rãi với một gương mặt rất quyết tâm. Nói xong thằng bé đi về hướng của chiếc ghế đá sau lưng tôi. Nó cuối người xoay lưng xuống và xốc đứa em của nó lên lưng, rồi cõng đứa em của nó đi. Tôi nhìn thấy hai cái chân của đứa em của nó bị què ốm nhom óm nhách lòng thòng trên lưng người anh của nó. Đoạn rồi tôi nghe nó nói với thằng em của nó. "Đến ngày sinh nhựt nào đó của em, anh sẽ mua tặng cho em chiếc xe lăn em nhé."
Tác Giả: Dan Clark.
Dịch giả: Nguyễn Thành Phong. |
Cảm nhận những ngày cận tết. Vào thời gian nầy, nhớ những năm trước, xưa lắm, là thời điểm đất trời trở nên nhộn nhịp hẳn lên. Trước tiên là việc học hành, đứa nào đứa nấy nôm nốp trong lòng chờ ngóng ngày ghỉ tết đến. Đi học về, thấy nhà chuẩn bị bột, nếp, củi nấu bánh tét, và chòm xóm rôm rả công chuyện chuẩn bị cho ngày tết, tết miền quê. Trước nhà, là con đường mòn, kẻ qua người lại, vui ơi là vui, bấy nhiêu đó cũng đã làm cho tâm hồn lỹ nhóc thích thú co giò nhảy múa rồi. Kẻ qua người lại, toàn là bưng thúng, gánh gồng, chứ chẳng thấy chiếc xe honda nào cả. Chưa hết, tiếng pháo lát đát nổ xa nổ gần, tiếng đậm tiếng lợt nghe thích thật. Năm nay chẳng thấy gì làm vui mặc dầu ngày tết có phần sang trọng hơn. bánh mức kẹo, .. những mặc hàng xa xí phẩm bầy bán đầy nhóc, nhưng dường như thiếu vắng một cái gì đó trong tâm, thiếu vắng một cái gì đó rạo rực của một miền quê mừng đón mùa xuân thật sự. Nguyễnthànhphong. |
WIDTH: 871px; HEIGHT: 488px
|
Hoa Tuyết
Click vào ảnh để xem độ phóng đại tối đa.
|
|
Dân Gian Trạng Quỳnh
Nhà vua có một con mèo quý lắm, xích bằng xích vàng và cho ăn những đồ mỹ vị. Quỳnh vào chầu, trông thấy, bắt trộm về, cất xích vàng đi mà buộc xích sắt, nhốt một chỗ, đến bữa thì để hai bát cơm, một bát thịt cá, một bát rau nấu đầu tôm. Mèo ta quen ăn miếng ngon chạy đến bát cơm thịt cá chực ăn. Quỳnh cầm sẵn roi, hễ ăn thì đánh. Mèo đói quá, phải ăn bát rau nấu đầu tôm. Như thế, được hơn nửa tháng, dạy đã vào khuôn, mới thả ra. Vua mất mèo, tiếc quá, cho người đi tìm, thấy nhà Quỳnh có một con giống hệt, bắt Quỳnh đem mèo vào chầu. Vua xem mèo, hỏi:
Sao nó giống mèo của trẫm thế? Hay khanh thấy mèo của trẫm đẹp bắt đem về, nói cho thật!
Tâu bệ hạ, bệ hạ nghi cho hạ thần bắt trộm, thật là oan, xin bệ hạ đem ra thử thì biết.
Thử thế nào? Nói cho trẫm nghe.
Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ phú quý thì mèo ăn thị ăn cá, còn hạ thần nghèo túng thì mèo ăn cơm với đầu tôm, rau luộc. Bây giờ để hai bát cơm ấy, xem nó ăn bát nào thì biết ngay. Vua sai đem ra thử. Con mèo chạy thẳng đến bát cơm rau, ăn sạch. Quỳnh nói:
Xin bệ hạ lượng cho, người ta phú quý thì ăn cao lương mỹ vị, bần tiện thì cơm hẩm rau dưa. Mèo cũng vậy, phải theo chủ. Rồi lạy tạ đem mèo về. |
|
Khái Hưng
Trên đê Yên Phụ một buổi chiều mùa hạ. Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưong muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi. Theo dòng nước đỏ lờ đờ, những thân cây, những cành khô từ rừng về nổi lềnh bềnh, như một dãy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thật nhanh tới một nơi không bờ không bến. Ðứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ ý thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói:
Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân trời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ! Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng dừng lại, hỏi vợ:
Mình thổi cơm chưa? Vợ buồn rầu đáp:
Ðã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay. Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau... Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông. Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ. Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ:
Liều! Vợ lắc đầu không nói. Chồng hỏi:
- Mình đã đến nhà bà Ký chưa?
- Ðã.
- Thế nào?
- Không ăn thua. Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước.
- Thế à? Hai chữ "thế à" rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên tường đương xâỵ Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ:
- Này! Mình về nhà, trông coi thằng Bò.
- Ðã có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi.
- Nhưng mình về thì vẫn hơn, cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó.
- Vậy thì tôi về... Nhưng mình cũng về chứ đứng đây làm gì?
- Ðược, cứ về trước đi, tôi về sau. Vợ Thức ngoan ngoãn, về làng Yên Phụ. Tới nhà, gian nhà lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm, chị phó Thức đứng ở ngưỡng cửa, ngắm cái cảnh nghèo khó mà đau lòng. Lúc nhúc trên phản gỗ không chiếu, ba đứa con đang cùng khóc lóc gọi bu. Thằng Bò kêu gào đòi bú. Từ trưa đến giờ, nó chưa được tí gì vào bụng. Cái Nhớn vỗ em không nín cũng mếu máo, luôn mồm bảo cái Bé:
Mày đi tìm bu về để cho em nó bú. Nhưng cái Bé không chịu đi, nằm lăn ra phản vừa chửi vừa kêu. Chị phó Thức vội chạy lại ẵm con, nói nựng:
Chao ôi! Tôi đi mãi để con tôi đói, con tôi khóc. Rồi chị ngồi xuống phản cho con bú. Song thằng Bò, ý chừng bú mãi không thấy sữa, nên mồm nó lại nhả vú mẹ nó ra mà gào khóc to hơn trước. Chị Thức thở dài, hai giọt lệ long lanh trong cặp mắt đen quầng. Chị đứng dậy, vừa đi vừa hát ru con. Rồi lại nói nựng:
- Chao ôi! Tôi chả có gì ăn, hết cả sữa cho con tôi bú! Một lúc thằng bé vì mệt quá, lặng thiếp đi. Hai đứa chị, người mẹ đã đuổi ra đường chơi để được yên tĩnh cho em chúng nó ngủ. Chị Thức lẳng lặng ngồi ôn lại cuộc đời đã qua. Bộ óc chất phát của chị nhà quê giản dị, không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có thứ tự. Những điều chị nhớ lại chen chúc nhau hỗn độn hiện ra như những hình người vật trên một tấm ảnh chụp. Một điều chắc chắn, chị ta nhớ ra một cách rành mạch, là chưa bao giờ được hưởng chút sung sướng thư nhàn như những người giàu có. Năm mười hai, mười ba, cái đĩ Lạc, tên tục chị phó Thức, xuất thân làm phu hồ. Cái đời chị, nào có chi lạ. Ngày lại ngày, tháng lại tháng, năm lại năm... Năm chị mười bảy, một lần cùng anh phó Thức cùng làm một nơi, chị làm phu hồ, anh phó ngõa. Câu nói đùa đi, câu nói đùa lại, rồi hai người yêu nhau, rồi hai người lấy nhau. Năm năm ròng trong gian nhà lụp sụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép và hai cái đời trống rỗng của hai con người khốn nạn, càng khốn nạn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con. Lại thêm gặp buổi khó khăn, việc ít, công hạ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chật vật suốt ngày này sang ngày khác vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con. Bỗng mùa nước mặn năm ngoái, bác phó Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Bác vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi. Hai tháng sau, bác trả xong nợ, lại kiếm được tiền ăn tiêu thừa thải. Vì thế năm nay túng đói, vợ chồng bác chỉ mong chóng tới ngày có nước to. Thì hôm qua, cái ăn, trời bắt đầu đưa đến cho gia đình bác. Nghĩ đến đó, Lạc mỉm cười, se sẽ đặt con nằm yên trên cái tã, rồi rón rén bước ra ngoài, lên đê, hình như quả quyết làm một việc gì. Ra tới đê, Lạc không thấy chồng đâu. Gió vẫn to, vù vù gầm thét dữ dội và nước vẫn mạnh, réo ầm ầm chảy quanh như thác. Lạc ngước mắt nhìn trời; da trời một màu đen sẫm. Chị đứng ngẫm nghĩ, tà áo bay kêu phần phật như tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ. Bỗng trong lòng nẩy ra một ý tưởng, khiến chị hoảng hốt chạy vụt xuống phía đê bên sông. Tới chỗ buộc thuyền, một chiếc thuyền nan, Lạc thấy chồng đương ra sức níu lại cái gút lạt. Chị yên lặng đăm đăm đứng ngắm đợi khi chồng làm xong công việc, mới bước vào thuyền hỏi:
Mình định đi đâu? Thức trừng mắt nhìn vợ, cất tiếng gắt:
Sao không ở nhà với con? Lạc sợ hãi ấp úng:
- Con... nó ngủ.
- Nhưng mình ra đây làm gì?
- Nhưng mình định đem thuyền đi đâu?
- Mình hỏi làm gì? Ði về! Lạc bưng mặt khóc. Thức cảm động:
- Sao mình khóc?
- Vì anh định đi vớt củi một mình, không cho tôi đi. Thức ngẫm nghĩ, nhìn trời, nhìn nước, rồi bảo vợ:
Mình không đi được... nguy hiểm lắm. Lạc cười:
- Nguy hiểm thời nguy hiểm cả... Nhưng không sợ, em biết bơi.
- Ðược! Tiếng "được" lạnh lùng, Lạc nghe rùng mình. Gió thổi vẫn mạnh, nước chảy vẫn dữ, trời mỗi lúc một đen. Thức hỏi:
- Mình sợ?
- Không. Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô, khi chìm, khi ẩn, khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son. Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi. Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ thì trời đổ mưa... Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở. Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu. Hai người cố bơi nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi... Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc:
Trời ơi! Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp... Chồng hỏi vợ:
Mình liệu bơi được đến bờ không? Vợ quả quyết:
- Ðược!
- Theo dòng nước mà bơi... Gối lên sóng!
- Ðược! Mặc em! Mưa vẫn to, sấp chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi:
- Thế nào?
- Ðược! Mặc em! Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh, nàng mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu:
Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa. Mấy phút sau, chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh ta rã rời. Vợ khẽ hỏi:
- Có bơi được nữa không?
- Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
- Em buông ra cho mình vào nhé? Chồng cười:
Không! Cùng chết cả. Một lát một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày chồng lại hỏi:
- Lạc ơi? Liệu có cố bơi được nữa không?
- Không?... Sao!
- Không. Thôi đành chết cả đôi. Bỗng Lạc rung khẽ nói:
Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!... Không?... Anh phải sống! Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để mình xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ. Ðèn điện sáng rực xuống bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Ðó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì lòng thương con. Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng. |
|
Viết theo chuyện một người bạn kể lại
Ở ngoài, đêm tối như mực. Trong toa hạng nhì, riêng tôi ngồi đối diện với Trạch, một người bạn cũ, tình cờ gặp vì cùng đi một chuyến xe. Mười năm trước, bạn tôi còn là một người cầm lái xe lửa, cũng hàn vi như tôi; bây giờ gặp nhau trong toa hạng nhì, hai người cùng ngạc nhiên và cùng mừng cho nhau.
Lúc nói chuyện, tôi thấy bên cạnh bạn có cái hộp khảm rất đẹp, liền cầm lấy xem, rồi tình cờ mở hộp ra; bạn tôi như có ý không bằng lòng, nhưng vì nể tôi nên không nói gì. Tôi nhìn vào hộp thấy rất lạ: hộp bịt kín, ở trong có một con bướm rất to, hai cánh đã xơ xác. Tôi hỏi bạn:
- Con bướm này vùng tôi thường thấy luôn, quý gì mà anh giữ cẩn thận thế này?
- Vâng, bướm thường, nói cho đúng thì chính là một con ngài, nhưng đối với tôi...
Vừa nói đến đấy, xe rầm rầm đi qua một cái cầu sắt. Bạn tôi lắng tai nghe rồi nói:
- Xe đi qua cầu N.G.. Tôi bắt con bướm chính ở giữa cái cầu này đã mười năm nay...
Thấy bạn có vẻ khác, tôi đoán có chuyện gì, liền hỏi:
- Con bướm này chắc cũng có sự tích gì đây?
- Vâng, nhưng sự tích buồn... chuyện đã ngoài mười năm: mười năm trước độ anh đi Saigon thì tôi còn là anh cầm lái tầu hỏa. Chính độ ấy tôi chạy con đường này, tình cảnh tôi độ ấy anh đã rõ.
- Cũng như tình cảnh tôi... - Nhưng có một việc tôi không nói anh hay là độ ấy tôi có lấy một người vợ, nhưng giấu nhà, giấu mọi người, giấu anh. Chúng tôi sống trong tình cảnh nghèo khổ mà thật lấy làm sung sướng. Nhưng vì cảnh nghèo, vì nhà tôi không quen chịu được kham khổ nên người một ngày một yếu dần.
Về sau nhà tôi bị bịnh nặng mà tôi thì vẫn phải đi làm, không ai trông nom ở nhà. Một đêm nhà tôi yếu quá ngất người đi mấy lần, mà chính đêm ấy là đêm tôi được ông Chánh cử đi cầm lái chuyến xe riêng chở quan Toàn Quyền. Thật là một dịp rất hay cho tôi. Nhưng tôi biết không thể nào đi được, liền vào kêu với ông Chánh, nói là vợ ốm. Ông Chánh đập bàn đập ghế, gắt:
- Tôi không biết! Một là mười giờ đêm nay anh phải có mặt ở ga, hai là từ giờ này trở đi anh đừng bước chân tới đây nữa. Thôi anh ra!
Lời ông Chánh nói quả quyết, tôi phân vân không biết nghĩ ra sao: lúc về nhà, ngồi ở đầu giường, nhìn đến vợ mới biết rằng không đi được, dầu có mất việc làm cũng không cần.
Nhà tôi thấy tôi có vẻ lo nghĩ, hỏi nguyên cớ vì sao, tôi liền đem việc ấy kể lại cho nhà tôi nghẹ Nhà tôi nghe xong, vẻ mặt tươi hẳn lên bảo tôi rằng:
- Thế cậu đi chứ! Việc gì phải ngần ngừ! Tôi không việc gì đâu, đã thấy đỡ nhiều. Chiều mai về mua cái gì làm quà cho tôi đấy.
Tôi thấy nhà tôi cười nói vui vẻ, tôi vững tâm, thay quần áo ra gạ Ðến ga đúng mười giờ. Nhưng khi cho xe chạy rồi, tôi mới thấy lo, tôi mới biết là tôi liều. Lúc đó tôi có cái cảm giác lạ lắm: hình như tôi đi thế này, lúc về chắc không nhìn thấy mặt vợ tôi nữa. Tôi cố định trí để cầm máy, nhưng chỉ được một lúc thôi.
Bỗng cả chuyến xe lửa nghiêng về một bên, rồi lắc lư như muốn đổ. Người "ét" của tôi vội bỏ cái xẻng xúc than, níu lấy tôi nói:
- Ô hay! hôm nay ông làm sao thế? Chỗ ấy đường cong nguy hiểm thế mà ông không hãm máy. Ông ngủ à?
Tôi không ngủ nhưng người tuy ở đây mà trí còn nghĩ đến người vợ nằm đợi chết một thân, một mình trong gian nhà nhỏ kia. Mắt tôi hoa lên, mồ hôi ra ướt đẫm cả người.
Xe đi vào khe núi, hết cao lại xuống thấp như có vẻ nhọc nhằn. Tôi thò đầu ra cửa nhìn thẳng trước mặt, nhưng đêm ấy sương mù đầy trời, không nhìn rõ gì cả, chỉ một màu trắng xóa dưới ánh hai cái đèn ở đầu toa. Bỗng tôi thấy... rõ ràng, tôi thấy in trên sương mù một cái hình người đàn bà mặc áo rộng đứng dang taỵ Tôi dụi mắt tưởng mình trông hoảng, nhưng không, hình người đàn bà vẫn đấy. Tôi gọi người "ét" lại cửa toa, bảo ông ta nhìn rồi hỏi:
- Bác có thấy gì không?
Vừa nói xong hình người vụt biến mất. Bác "ét" thò đầu ra và bảo tôi:
- Chỉ thấy sương mù! ông lại mê ngủ rồi.
- Không rõ ràng tôi thấy có hình người đàn bà in trên sa mù nhưng vừa biến mất. |
Người "ét" cười ra vẻ không tin, lấy xẻng xúc than cho vào lò, còn tôi vẫn đứng nguyên chỗ cũ đăm đăm nhìn thẳng trước mặt. Ðược một lát, hình người đàn bà lại hiện ra, lần này rõ ràng hơn, hai tay ngăn thẳng như muốn ngăn đường không cho xe chạy lên nữa.
Tôi gọi người "ét" nhưng bác ta làm bộ không nghe thấy cứ cắm đầu xúc than cho vào lò. Tôi biết tôi không mê, tôi biết là cái hình người ấy có thật, mà ai cũng phải thấy. Tôi đến cầm lấy tay bác "ét" kéo bác ra xem rồi bảo, cả quyết:
- Nhìn xem! Bác ta há hốc mồm giương to đôi mắt, hốt hoảng nói:
- Lạ thật!... ma ông ạ! Xe tiến đến đâu, cái hình người lại đến đấy, có lúc mờ, lúc rõ, lơ lửng giữa lưng trời.
Rồi cái hình người ấy vẫy hai tay một cách thong thả, như có ý bảo chúng tôi đừng tiến lên nữa, có sự gì nguy hiểm.
Tôi bảo bác "ét":
- Bác này, có sự gì lạ sắp xảy ra.
- Vâng, sao cái hình lại như lấy tay làm hiệu bảo ta đứng lại. Cái hình người trước còn vẫy tay thong thả, sau vẫn thật nhanh như người tỏ ý thất vọng, vì bảo chúng tôi mà chúng tôi không nghe.
- Hay ta dừng xe lại xem sao, chắc là ma!
- Không được, tự nhiên vô cớ. Còn tôi lúc bây giờ hai tai ù như người mất trí khôn: tôi văng vẳng nghe có tiếng người ở thật xa đưa lại, tiếng một người đàn bà bảo tôi:
- Ðỗ lại! Ðỗ lại! Tôi lắng tai, tay nắm chặt lấy cái "phanh" như định hãm rồi lại không hãm.
Một lát, tôi lại nghe thấy tiếng người đàn bà, rõ hơn lần trước, giục tôi:
- Hãm lại! Hãm ngay lại! Lúc bấy giờ tôi không biết gì nữa, nhắm mắt hãm phanh lại thật mạnh. Các toa rùng một cái, bánh xe kêu rít lên trong đêm thanh vắng. Xe chạy từ từ một quãng rồi đỗ hẳn. Tôi chưa kịp bước xuống, đã thấy người "xếp tanh" cầm đèn lên hỏi:
- Việc gì thế? Tôi luống cuống không biết trả lời làm sao, vì nói thật ai tin mình. Tôi trả lời một cách mập mờ:
- Chắc có sự gì lạ. Ðể tôi cầm đèn đi xem đã. Lúc bấy giờ mấy ông quan hầu quan Toàn Quyền cũng vừa đến, rồi thấy lạ, đi theo chúng tôi. Vừa đi được một quãng thì nghe trước mặt có tiếng nước chảy ầm ầm. Tôi định tâm mới nhớ ra rằng đó là cầu N.G.. Mấy đêm ấy mưa lũ, nước chắc chảy xiết, nên mới réo to như vậy. Ðến bờ sông, giơ đèn lên soi, mấy người đều kinh hoảng: cái cầu N.G. bị nước nguồn chảy về xoáy gẫy làm đôi.
Một tí nữa, nếu không hãm kịp thì cả một chuyến xe riêng chở quan Toàn Quyền đâm nhào xuống sông sâu, chắc không sống sót một ai; tưởng không có cái tai nạn nào ghê gớm hơn, thế mà chính vì tôi nên mới không có cái tai nạn ấy. Tôi đứng ngẩn người không hiểu sao cả.
Người "xếp tanh" mừng cuống quít, hỏi tôi:
- Sao ông biết mà hãm?
- Tôi cũng không hiểu.
Mấy người quan hầu có vẻ mừng lộ ra mặt, xúm xít quanh tôi hỏi dồn, tôi không biết trả lời ra sao, một lát, mọi người đứng giãn ra, quan Toàn Quyền đến, ngài không nề tôi là người lao động, trong lúc mừng quá, ngài giơ tay bắt tay tôi, cái bàn tay đầy bụi than, rồi ngài tỏ lời khen.
Tôi chắc rồi sau thế nào cũng được trọng thưởng, nhưng trọng thưởng lúc đó đối với tôi cũng như không. Tôi chỉ nghĩ đến nhà tôi ở nhà, không biết ra saọ Tôi đi trở lại và thoáng thấy cái gì bám ở cái đèn để đầu toa, nhìn kỹ thì ra một con bướm thật to, vướng vào đen, đương đập cánh để tìm đường thoát. Chính là con bướm trong cái hộp này đâỵ Trông thấy con bướm tôi thốt nghĩ ra ngaỵ Chính phải rồi, chính cái hình người đàn bà lúc nãy là cái bóng con bướm này in lên trên sương mù, đầu con bướm là đầu hình người mà hai cánh con bướm đập là hai cái tay người vẫy.
Tôi bắt con bướm rồi định thả cho nó bay đi, sau nghĩ con bướm đã giúp mình được việc, nên giữ lại làm kỷ niệm. Tôi nhìn vào đồng hồ trong toa, thấy kim chỉ đúng hai giờ đêm... Hôm sau tôi vừa về tới cổng nhà thì thằng nhỏ chạy ra báo tin nhà tôi mất, mất vào khoảng một giờ đêm qua.
Tôi không hay tin nhảm; tôi chắc đó chỉ là một sự tình cờ, một sự ngẫu nhiên, nhưng tôi vẫn yên trí rằng linh hồn nhà tôi đã nhập vào con bướm này để phù hộ cho tôi tránh được tai nạn hôm ấy. Nhưng tránh được tai nạn mà làm gì, tôi thoát được thân tôi mà làm gì, giầu sang phú quý bây giờ đối với tôi cũng như không, tôi cũng chỉ như con bướm này, xác đấy mà hồn tận đâu đâu.
Bạn tôi kể xong câu chuyện, đậy cái hộp khảm lại, rồi lại thẫn thờ nói:
- Bây giờ chỉ còn lại cái xác bướm không hồn! |
|
Ngày xưa, có hai vợ chồng nông dân hiếm hoi, cầu Trời khấn Phật mãi người vợ mới có thai, nhưng đến khi sinh ra, không phải là người mà lại là một con cóc.
Con cóc lớn lên, biết nói tiếng người, song hình thù sần sùi, xấu xí, khiến cha mẹ nó lấy làm buồn phiền, thường than thở với nhau:
Vợ chồng mình già cả, hiếm hoi, tưởng sinh được mụn con nối dòng, trông nom đỡ đần mình, ngờ đâu oan gia nghiệp báo lại sinh ra cóc, còn trông mong gì nữa!
Cóc nghe thấy thế, khuyên cha mẹ đừng lo. Rồi ngay hôm sau cóc nhảy đi coi ruộng cho cha mẹ, và từ khi nó trông nom đồng áng thì chẳng có ai lấy trộm lúa ruộng nhà nó như trước nữa.
Một hôm, có mấy thư sinh đi qua ruộng nó, dẫm lên lúa, bỗng nghe có tiếng lanh lảnh như giọng con gái bảo rằng:
Xin các cậu đi cho có ý tứ kẻo làm nát lúa nhà em. Lũ thư sinh nhìn vào ruộng lúa, chẳng thấy ai, chỉ thấy một con cóc đang ngồi đó. Tiếng nói dịu ngọt làm cho một anh trong bọn đâm ra có cảm tình. Chàng thư sinh này bấy lâu đọc sách đạo thần tiên, tin tưởng có sự mầu nhiệm ở đời, nên về nhà nói với cha mẹ xin hỏi cóc làm vợ.
Ban đầu cha mẹ thư sinh tưởng con mình hóa dại, song anh ta cứ một mực đòi lấy cóc làm vợ cho kỳ được, nếu không thì thề quyết chẳng lấy ai. Người cha bèn kiếm cớ từ khước, bảo chỉ có một mình anh ta là con trai, cưới cóc về có sinh ra được con cái để nối dòng không? Thư sinh tin là sẽ có sự nhiệm màu xảy đến trong ngày cưới cóc về, Tiên Phật sẽ giúp cho cóc thành người có đức hạnh, nhan sắc hơn đời. Thấy con đã nhất quyết như vậy, cha mẹ anh ta cũng đành phải chiều theo, đem trầu cau đi hỏi cóc.
Đến ngày cưới, bên nhà trai mang đủ lễ vật, đồ nữ trang, quần áo cho cô dâu như người thường, chàng rể hy vọng Tiên Phật hóa phép cho cóc thành một cô gái xinh tươi như chàng vẫn mộng tưởng. Cả hai họ cũng trông mong như vậy, nhưng đến khi rước dâu, mọi người phải tức cười và xấu hổ vì đưa đón một con cóc nhảy về nhà chồng.
Cha mẹ chồng vừa rầu, phiền cho con trai, vừa chua xót vì con dâu cóc, liền cấp ruộng cho đôi lứa đi ở riêng. Thư sinh cũng buồn lòng, cặm cụi học hành, nghiên cứu các khoa học thần bí, hy vọng gỡ rối cho gia đình, nhất là đối với cha mẹ già đang khát khao có cháu bế. Cóc thì siêng năng công việc ở nhà, thức khuya dậy sớm khuyên chồng chăm chỉ bút nghiên.
Ngày ngày anh ta đi học về thì đã thấy cơm nước sẵn sàng, nhà cửa sạch sẽ ngăn nắp, mới nghĩ bụng rằng trong lúc vắng mình, chắc vợ trút lốt cóc thành người, chứ một con cóc thì làm sao lo việc nội trợ khéo léo được thế kia? Mấy bận anh ta thử rình, ra đi rồi thình lình trở về bất ngờ, hy vọng bắt gặp vợ là một cô gái xinh đẹp, song chỉ thấy một con cóc sần sùi ở nhà. Anh van nài cóc hóa thành người đẹp cho mình được sung sướng, nhưng cóc vẫn thản nhiên không tỏ vẻ gì cả.
Một tối, anh cho cóc hay tin mình được bổ đi dạy ở trường tỉnh, ngỏ thật rằng mình không thể đưa vợ đi theo nếu vợ vẫn giữ lốt cóc. Từ ngày cưới về anh ta đã chịu biết bao lời chế diễu của hàng xóm, bè bạn. Hơn nữa, cha mẹ vẫn thúc dục anh lấy thêm vợ khác để có con nối nghiệp tông đường. Cóc lặng yên nghe chồng than thở, khuyên chồng chớ nên quá buồn phiền, và xin phép hôm sau về nhà thăm cha mẹ.
Sáng ngày, cóc đi theo chồng, được một quãng thì nhảy vào một cái bụi bên đường. Thư sinh dừng bước lại thì thấy ở bụi cây đi ra một cô gái xinh đẹp lạ lùng, quá sức ước mong của anh bấy lâu. Anh sung sướng ngẩn ngơ nhìn người vợ đẹp lại gần, say đắm ngắm nghía vợ từ đầu đến chân rồi thiết tha xin vợ từ đây cứ giữ hình người. Biết là vợ đã trút lốt cóc ra trong bụi, anh ta kiếm cớ đi lùi lại sau rồi chạy lẻn đến bụi tìm lốt cóc mà dấu vào mình.
Đến nhà, cha mẹ thư sinh mừng rỡ thấy con dâu cóc đã hóa ra người xinh đẹp, dịu dàng. Anh chồng hân hoan thừa lúc mọi người không để ý đến, đem lốt da cóc bỏ vào bếp lửa cho tiêu tan. Hai vợ chồng ở lại nhà cha mẹ cả đôi bên luôn mấy ngày, vui vẻ tiệc tùng liên tiếp rồi mới trở về nhà.
Trên đường về vợ kiếm cớ vào bụi cây để tìm lại lốt cũ, không thấy, chồng mới cho hay là mình đã lấy đốt đi rồi. Vợ đành phải giữ nguyên hình người để về với chồng.
Hai vợ chồng ăn ở với nhau đằm thắm vui vẻ, vợ sinh được nhiều con cái, chồng học thi đỗ cao làm nên chức lớn, sống một đời sung sướng.
|
|
|
Trong một trang trại ở miền núi xa xôi, miền Đông bang Kentucky, có một ông cụ sống với người cháu của mình. Mỗi buổi sáng, ông cụ đều dậy rất sớm để đọc sách. Có những cuốn sách ông đã đọc nhiều lần, đến mức cuốn sách sờn cũ, nhưng lúc nào ông đọc cũng say mê và chưa một buổi sáng nào ông quên đọc sách.
Cậu cháu trai cũng bắt chước ông, cũng cố gắng mỗi ngày đều ngồi đọc sách. Rồi một ngày, cậu hỏi ông:
- Ông ơi, cháu cũng thử đọc sách như ông, nhưng cháu không hiểu gì cả. Hoặc là có những đoạn cháu hiểu, nhưng khi gấp sách lại là cháu quên ngay. Thế thì đọc sách có gì tốt đâu mà ông đọc thường xuyên thế ạ...
Ông cụ lúc đó đang đổ than vào lò, quay lại nhìn cháu và chỉ nói:
- Cháu hãy đem cái giỏ đựng than này ra sông và mang về cho ông một giỏ nước nhé!
Cậu bé liền làm theo lời ông, dù rằng tất cả nước đã chảy ra hết khỏi giỏ trước khi cậu bé quay về đến nhà.
Nhìn thấy cái giỏ, ông cụ cười và nói:
- Nước chảy hết mất rồi! Có lẽ lần sau cháu sẽ phải đi nhanh hơn nữa!
Rồi ông bảo cháu quay lại sông lấy một giỏ nước.
Lần này cậu bé cố chạy nhanh hơn, nhưng lại một lần nữa, khi cậu về đến nhà thì cái giỏ đã trống rỗng. Thở không ra hơi, cậu nói với ông rằng “đựng nước vào cái giỏ là điều không thể”, rồi đi lấy một chiếc xô để múc nước. Nhưng ông cụ ngăn lại:
- Ông không muốn lấy một xô nước. Ông muốn lấy một giỏ nước cơ mà! Cháu có thể làm được đấy, chỉ có điều cháu chưa cố hết sức thôi!
Rồi ông lại bảo cháu ra sông lấy nước. Vào lúc này, cậu bé đã biết rằng không thể đựng nước vào giỏ được, nhưng cậu muốn cho ông thấy rằng dù cậu chạy nhanh đến đâu, nước cũng sẽ chảy hết ra khỏi giỏ trước khi cậu về đến nhà. Thế là cậu bé lại lấy nước, lại chạy nhanh hết sức, và khi về đến chỗ ông, cái giỏ lại trống rỗng.
- Ông xem này - Cậu bé hụt hơi nói - Thật là vô ích!
- Cháu lại nghĩ nó là vô ích ư... - Ông cụ nói - Cháu thử nhìn cái giỏ xem!
Cậu bé nhìn vào cái giỏ, và lần đầu tiên, cậu bé nhận ra rằng cái giỏ trông khác hẳn ban đầu. Nó không còn là cái giỏ than đen bẩn nữa, mà đã được nước rửa sạch sẽ.
- Cháu của ông, đó là những gì diễn ra khi cháu đọc sách. Có thể cháu không hiểu hoặc không nhớ được mọi thứ, nhưng khi cháu đọc, sách sẽ thay đổi cháu từ bên trong tâm hồn, như nước đã làm sạch giỏ than kia vậy. |
|
|
(Nguyễn thị Thùy Vân)
Trời hưng hửng. Một chút sương bụi còn vương vất. Thập thò trước đôi cổng sắt cao nghệu nhà nuôi trẻ mồ côi khép còn kín là hai đứa trẻ gầy còm, rách rưới. Thằng anh áng chừng 10 tuổi, mặt mày lơ láo, sợ sệt. Đứa em nhỏ, khoảng lên hai, đôi mắt lòa lồi hẳn ra như hai viên bi mờ đục.
Buổi sớm đường dốc cao, xe qua vùn vụt. Không ai buồn liếc mắt nhìn quanh. Mặc thằng anh nghiêng ngóng, quan sát, đứa em ngồi thụp xuống đất, ủ rũ như chú chó con khát sữa.
Thỉnh thoảng đứa em cất tiếng gọi:- Anh Hai ơi!
Thằng anh trả lời bằng cái hắng giọng. Biết có anh bên cạnh nó có vẻ an tâm.
- Vô đó được ăn nọ Được uống sữa, được ăn bánh kẹo. Đủ thứ hết - Anh nó dỗ - Nhớ không được khóc, người ta đánh - thằng anh cẩn thận dặn thêm.
Đứa em nó cố níu lấy đôi chân khẳng khiu của anh. Miệng méo xệch, thằng bé muốn khóc nhưng không dám. Giữa hai đứa diễn ra cuộc giằng co thầm lặng.
- Biết có tao người ta không nhận mày đâu, thằng anh dọa khẽ.
Chỉ còn sự sợ hãi trên khuôn mặt non nớt của đứa bé sắp bị bỏ rơi - Thằng anh cương quyết gạt tay em:
- Chừng nào nghe anh huýt sáo thì bò vào, nghe chưa!
Dứt câu nó chạy vụt đi.
Hai tay chới với giữa khoảng không, thằng em òa khóc. Đôi mắt lồ lộ trắng dã làm nó không biết thằng anh chạy về hướng nào.
Xa xa bên kia đường, phía nhà Thờ lớn thằng anh luẩn quẩn lượm bao ny-lon mà mắt vẫn hướng về cánh cổng sắt. Thằng em vẫn còn ngồi đó, gào to, nức nở:
-Anh Hai ơi! Anh Hai ơi!
Không dám dừng tay, thằng anh cố moi trong đống rác tìm vật gì bán được. Nó miên man nghĩ đến bà mẹ Ốm đau để cố quên đi tiếng khóc của đứa em bé bỏng. Nguyện ước duy nhất của mẹ là anh em nó được vào nhà nuôi trẻ mồ côi, bà hy vọng ở đó chúng sẽ sung sướng hơn . Ít ra chúng cũng có cơm ăn, áo mặc. Chúng sẽ được đi học, được dạy dỗ. Lớn lên chúng sẽ có việc làm nuôi thân...
Thằng anh không hiểu điều đó đúng hay sai, nhưng vẫn làm theo ý mẹ. Phần nó chưa thể được. Để mẹ yên lòng, trước mắt nó mang thằng em đi.
Giờ đây em nó đang ngồi dưới đất, trước cổng nhà nuôi trẻ mồ côi, gào khóc gọi anh. Cổng đã mở. Quên bẵng nhiệm vụ huýt gió cho em vào, thằng anh vờ lom khom bên đống rác đã xới tung nhiều lần. Chẳng còn gì trong đó, mặt quay đi nhưng mắt liếc lại. Nó nhìn thấy có người từ trong đi ra. Em nó vẫn sờ soạng đôi tay tuyệt vọng bám vào thành cổng gọi anh.
Không thể để họ nhìn thấy mình. Đó là điều duy nhất thằng anh còn nghĩ được. Nó muốn bỏ chạy thật nhanh, càng xa càng tốt.
Cùng lúc, tai nó như bùng vỡ vì tiếng nức nở của đứa em tội nghiệp:
-Anh Hai ơi! Anh Hai ơi!
Thân nó như bị chẻ đôi. Một nửa quay lại, một nửa bỏ trốn. Mắt nó nhìn thấy đứa em đang co rúm, run rẩy trong tay người lạ. Thằng bé bỗng giẫy giụa, cuống cuồng. Nó không cần cơm, không cần sữa, không cần cả bánh kẹo. Nó chỉ cần anh Hai, nó muốn được về nhà.
-Anh cháu đâu? - Người ta hỏi.
Bất ngờ thằng anh vụt lao tới. Hổn hển, lơ láo. Bằng tất cả sức mạnh của tình thương, nó giật phắt đứa em trong tay người lạ. Rồi nó bật khóc:
-Em của cháu... Em của cháu... Nó lắp bắp.
Người ta trả em nó lại cho nó.
-Ai bắt em mày đâu mà sợ. Đi mà không lo coi em...
Mặc những lời trách, thằng anh xốc vội em lên vai. Thằng em cuống quýt bám chặt cổ anh, đơi chân quắp ngang người, vẫn chưa hết thổn thức.
Mắt nhòa lệ, không kịp cảm ơn, thằng anh lầm lũi bước. Lòng trĩu nặng, nó nghĩ đến mẹ và cơ hội vừa bỏ lỡ. Buổi sáng, co ro trong manh chiếu rách, mẹ nó đã khóc nhìn nó dắt em ra đi. Đúng là bà đã mong muốn điều đó, bởi không thể làm gì hơn được cho hai đứa con côi cút. Thế nhưng giờ đây, thốt nhiên thằng anh tin rằng, bà sẽ vui mừng hơn nữa khi thấy chúng lại trở về. |
|
Người bán đồ cổ vừa xoa xoa hai lòng bàn tay vào nhau và nói:
- Thưa ông chính cái rương này từ Ấn Độ gởi qua. Đây là loại gỗ quý, gỗ này thật đặt biệt hiếm. Maax với giọng hơi ngập ngừng:
- Được rồi. Tôi sẽ mua vật này mà. Chính lúc bước chân vào tiệm, Maax đã để ý đến cái rương này, cái rương làm toàn bằng gỗ một màu đen nhánh, lại có những đường gân trắng nổi lên trên, rất đặt biệt. Mặt rương nổi lên màu sắc địa phương của nó. Hơn nữa, kích thước của nó rất vừa ý Max. Rương rộng lối sáu tấc, dài mười tám tấc, cao lối chín tấc. Khi Maax đoán biết chủ tiệm saÜn sàng bán rương với giá 12 dollar thì ý muốn của chàng là xỉa tiền mua ngay vật quý này. Tuy nhiên, Maax lại lưỡng lự, vì theo ý của chàng giá bán sao rẻ quá, hơn nữa, khi giá cả đã ngã ngũ, trông mặt mày chủ tiệm có vẻ thoải mái thấy rõ. Phải chăng loại gỗ đóng rương không phải là loại gỗ quý? Hay là cái rương này có điểm nào tệ đây? Nhưng rồi... việc mua bán đã xong xuôi, tiền đã giao, qua ngày mai dù Maax đổi ý thì sự việc cũng đã quá trễ rồi. Trông mặt gỗ rất bóng, không một đường rạn nứt nào cả. Nhìn chung, cái rương trông rất đẹp! Nắp rương đậy kín. Cái chìa khóa lớn dùng để mở trông rất gọn và lúc mở cũng không nghe tiếng động lớn. Maax tỏ ý vừa lòng. Mỗi ngày chàng để ý lau chùi bụi bặm bám trên mặt rương. Đem về nhà, chàng đặt rương vào một góc phòng. Maax nghĩ thầm khi phải dọn nhà, đồ vật này đối với chàng rất là tiện. Vả lại trong lúc này, chính cái rương quý này làm cho căn phòng của Maax giá trị thêm lên. Nhiều tuần lễ trôi qua. Thỉnh thoảng Maax lại đưa mắt ngắm xem cái rương quý. Nhưng về sau, lâu ngày Maax ít để ý đến. Một tối nọ, một sự việc bất ngờ khác lạ xảy đến làm cho Maax suy nghĩ rất nhiều. Trong lúc ngồi vào chiếc ghế bành, im lặng đọc sách, không hiểu vì lẽ gì, Maax đưa mắt ra khỏi trang sách nhìn về phía góc phòng nơi đặt gương. Một ngón tay dài, xanh xao thò ra khỏi nắp rương. Maax ngồi lặng thinh trong chiếc ghế bành, tâm trí như bị tê liệt vì quá sợ hãi trong thời gian lâu từ hai đến ba phút, cặp mắt không rới khỏi mặt gương. Rõ ràng là một ngón tay thật dài xanh xao, lóng tay không được suôn sẻ, đầu ngón tai là cái móng bầm đen. Qua những phút sợ hãi, lúc này đến phút giận dữ ngón tay đó vẫn đứng yên. Hiện tượng ấy thật kỳ quái. Buổi tối yên lặng của chàng bỗng nhiên bị phá tan bởi sự xuất hiện ngón tay dị kỳ đó. Maax lên tiếng chửi thề và cầm cuốn sách vất mạnh về phía chiếc rương. Ngón tay biến mất Maax không còn trông thấy gì nữa. Chàng đưa cao ngọn đèn dọi ánh sáng về phía góc phòng rồi bước mau về phía cái rương, đột ngột mở nắp rương. Bên trong không có gì cả. Chàng đậy nắp rương lại lượm cuốn sách cầm tay, trở về chỗ cũ, ngồi vào ghế. Phải chăng trong mấy ngày qua chàng đọc sách quá nhiều nên bị hoa mắt. Chàng giả vờ tiếp tục đọc sách lại nhưng chốc chốc chàng lại đưa mắt về phía góc phòng cho đến khi không nhận thấy có gì kỳ lạ xảy ra, lúc đó chàng mới lên giường ngủ. Nhưng suốt ba bốn ngày sau đó, hiện tượng kỳ quái kia cứ ám ảnh mãi trí óc Maax. Chàng không dám về khuya và bắt đầu đọc sách ít lại. Trong tuần lễ đầu, chàng đinh ninh là mắt chàng bị quá mệt nên làm cho chàng nhìn ra hiện tượng kỳ lạ đó. Bắt đầu tuần lễ thứ hai, nghĩ rằng thị giác đã được nghỉ ngơi vừa sức, chàng mua về nhiều tạp chí và bắt đầu mải mê đọc. Đọc được vài trang Maax ngước mắt nhìn về phía chiếc rương nhưng cũng không thấy gì lạ xảy ra. Ngồi vững vàng vào chiếc ghế bành, Maax chăm chú đọc suốt cả tiếng đồng hồ. Đọc hết một cuốn định đọc qua một cuốn khác, chàng đưa mắt về phía chiếc rương... Cái ngón tay dài xuất hiện, bất động, lóng tay không được suôn sẻ, móng tay màu bầm đen. Maax cố ý cưỡng lại ý muốn chạy sang phòng bên cạnh, đưa tay về hướng chiếc bàn đặt gần chiếc ghế bành, sờ soạng tìm lấy cái gạt tàn thuốc, nhưng cặp mắt chàng vẫn không rời khỏi chiếc rương. Bàn tay chàng đã nắm được cái gạt tàn thuốc, lúc này, chàng từ từ đứng dậy nhẹ nhàng đi tới góc phòng. Lúc chàng bước tới cái rương với khoảng cách chừng một thước thì ngón tay kia cũng biến mất. Maax mở nắp rương ra. Bên trong rương, không có gì cả! Trí óc Maax đảo lộn. Chàng trở về chổ cũ, ngồi vào ghế. Tuy lúc này cái ngón tay quái dị kia không xuất hiện nữa nhưng chàng cũng không xua đuổi khỏi trí óc được hình ảnh ghê rợn lúc này. Trước khi lên giường ngủ, một ý nghĩ mới đên trong óc chàng: Sẽ tìm cách thủ tiêu cái rương này! Maax vẫn khỏe mạnh. Thật ra hiện tượng kỳ quái đó không phải xuất phát từ thị giác của Maax mà chính là ở cái rương kỳ dị kia. Chàng nhớ lại những chuyện đã qua. Trước hết là cái rương đã bán giá quá rẻ. Thứ hai là chủ tiệm đã tỏ ra vui mừng khi bán được món hàng mà hắn ta cho là rất quý. Nhưng Maax vẫn tin mình. Chàng tự hỏi không biết chàng có bị rối loạn thần kinh không? Sáng hôm sau, trước khi đi làm việc, chàng nhờ chủ nhà cho người chở nó đi, vất nó vào nơi chứa đồ phế thải, thủ tiêu bằng cách hỏa thiêu nó. Nhưng buổi chiều hôm ấy, khi trở lại phòng trọ, vật đầu tiên trong căn phòng đập vào mắt chàng lại là cái rương ma quái đó. Vừa sợ hãi vừa tức giận, Maax vội vàng tìm chủ nhà tra hỏi lý do nào mà bà ta không chịu nghe lời chàng. Bà chủ nhà ôn tồn giải thích cho chàng nghe là cái rương còn tốt quá, lại bằng gỗ quí, đem rương bỏ vào chỗ chứa đồ phế thải, uổng phí quá. Hơn nữa, không có một bác phu rác nào mất trí đến nỗi đang tay châm lửa đốt một chiếc rương trông đẹp như vậy được. Nghe lời giải thích đó, Maax xin lỗi bà chủ nhà, trở về phòng. Chàng ngồi vào chiếc ghế bành và bắt đầu nhìn không chớp mắt vào chiếc rương. Chàng nghĩ thầm là nếu không còn có một việc gì xảy ra nữa thì chàng vẫn giữ lại chiếc rương, còn trái lại, lần này Maax sẽ cương quyết tìm cách thủ tiêu nó. Tối hôm đó, Maax định đi dự một buổi hòa nhạc nhưng một trận mưa dai dẳng giữ chàng ở lại trong căn phòng của chàng. Trước khi ngồi vào ghế đọc sách, Maax bước lại góc phòng lấy chìa khóa trong túi áo, khóa rương lại. Cuộc thí nghiệm lần này sẽ quyết định dứt khoát cho ý định của chàng. Trong lúc đọc sách, chốc chốc, Maax lại đưa mắt về phía chiếc rương. Nhưng không có gì xảy ra trước mười một giờ đêm cả. Đến lúc chàng đặt sách xuống, chàng liếc mắt vào góc phòng, nhìn lên cái rương: Ngón tay kỳ lạ kia lại xuất hiện. Và cái ngón tay dài, xanh xao, thay vì bất động lần này dường như ngón tay đó đang cử động. Ngón tay run run tuồng như đang cào vào mặt gỗ với cái móng đen bầm của nó. Maax tập trung tất cả can đảm cầm cái gạt tàn và bước lại góc phòng. Ngón tay ma quái bỗng biến mất đúng vừa lúc chàng đưa tay định ném thật mạnh cái gạt tàn thuốc vào chiếc rương. Tim chàng đập thình thịch. Chàng mở nắp rương. Bên trong vẫn trống không. Lúc này chàng nghĩ đến cái chìa khóa chàng để ở túi áo. Một cảm giác ghê rợn đến dựng tóc gáy. Cái chìa khóa để trong túi áo đã biến mất nhưng lại thấy nằm ở ổ khóa. Chàng lẩm bẩm nghĩ rằng có lẽ chàng đã mất trí. Maax lại khóa chặt rương lần nữa trở lại ngồi vào ghế, nhìn chằm chằm vào chiếc rương ma quái cho mãi đến hai giờ sáng. Cuối cùng, vì quá mệt mỏi, trí óc bị đảo lộn, Maax lên giường ngủ. Trước khi tắt đèn chàng để ý là nắp rương đã được đậy kín và được khóa kỹ. Khi chàng đã thiu thiu ngủ, bỗng một cơn ác mộng chợt đến. Trong giấc ngủ, chàng nghe như có tiếng cào gỗ làm Cho chàng thức dậy. Thắp một cây nến chàng đưa mắt về phía trước rương. Cái ngón tay dài lại hiện lên trước mặt rương và đang cựa quậy mạnh. Ngón tay đó lúc lắc trở lại thật mạnh, cào lên mặt rương, với chiếc móng bầm đen. Nhưng dường như nó thấy sự xuất hiện của chàng nên bỗng nhiên nó dừng lại. Và... từ từ, ngón tay đó ra hiệu cho Maax lại gần. Quá sợ hãi, Maax không thể vâng lời được. Chàng đặt cây nến xuống bàn và chân bắt đầu bước giống hệt như một người máy. Ngón tay kỳ dị đó như kéo chàng lại gần, chàng giống như một thỏi sắt bị nam châm hút. Đúng vừa lúc Maax bước lại gần chiếc gương thì ngón tay kỳ dị đó rút vào, và nắp rương tự nhiên mở lên. Maax lúc nào cũng bị một sự sợ hãi quá mức thôi miên, chàng bước vào lòng rương ngồi khom mình, đầu gối chống cằm rồi ngã cả thân mình xuống lòng rương. Nắp rương tự nhiên đóng sập mạnh và chiếc chìa khóa tư động quay một vòng trong ổ khóa... Maax hoảng hốt thức dậy hét lên một tiếng ghê rợn. Chàng ngồi thẳng người trên giường, mồ hôi chảy dầm dề trên trán. Maax qua sợ vội trùm cả tấm ra lên đầu và nằm như vậy cho đến sáng. Trời sáng tỏ, lấy lại bình tĩnh, Maax rời khỏi căn phòng đi pha cà phê uống. Hôm ấy chàng không đến sở mà lại tìm đến nhà một khu phố đổ rác mà lâu nay chàng từng nhờ cậy người này giúp trong nhiều công việc. Chàng dặn dò bác phu thật kỹ về những đều chàng muốn thực hiện. Chàng trao cho bác phu số tiền mười dollar và còn hứa sẽ trao thêm tiền khi xong việc. Buổi chiều hôm ấy. Maax trở lại căn phòng riêng của chàng lòng rất tự tin, nhưng vừa bước vào căn phòng, chàng cảm thấy như quả tim mình thoát ra khỏi lòng ngực. Trái với lời dặn của chàng, bác phu đổ rác vẫn chưa chịu khiêng cái rương đi vất bỏ. Lần này, Maax tỏ ra vô cùng thất vọng hơn là nổi cơn giận lôi đình. Chàng bước ra ngoài gọi điện thoại liên tục cho bác phu đổ rác. Ông này lựa lời xin lỗi, lấy cớ là chiếc xe của ông bị hỏng máy đúng vào lúc ông chuẩn bị đi làm phận sự. Ông đã phải bỏ hết cả ngày sửa chữa xe và xin hứa qua ngày hôm sau sẽ đến sớm để lo tròn công việc. Maax không biết làm gì hơn, buông thỏng hai tiếng "cảm ơn" và đặt điện thoại xuống. Chàng không muốn trở lại căn phòng riêng của mình mà tạt vào một quán trong khu phố ăn trưa rồi đi xem chiếu phim luôn. Ở rạp chiếu phim ra, Maax lại tạt vào một quán cà phê, ngồi cà kê mãi cho đến nửa đêm mới về căn phòng của chàng. Cơn ác mộng đêm hôm trước vẫn còn ám ảnh trí óc nên dù đêm qua ngủ rất ít nhưng đêm nay chàng vẫn chưa nhắm mắt được, vì thế chàng cảm thấy rất mệt mỏi. Sau khi xem kỹ là nắp rương được đóng kín, Maax cẩn thận đặt chìa khóa ở dưới gối nằm rồi nhắm mắt ngủ. Vài giờ sau đó, Maax bỗng thức dậy, ngồi lên một cách tỉnh táo. Tim chàng đập mạnh hơn lúc nào hết. Trong một phút định thần, chàng tự hỏi vì sao chàng lại ngồi dậy như thế này. Có tiếng cào lên mặt gỗ nghe rõ mồn một ở phía góc phòng. Tay chân của chàng run rẩy, chàng nhảy xuống giường, đưa tay ấn nút mở sáng chiếc đèn làm việc ban đêm, đặt trên bàn. Không có ánh sáng tỏa ra. Bóng đèn bị cháy hay dòng điện bị cắt đứt? Chàng mở hộc bàn đưa tay quờ quạng tìm cây nến. Trong lúc chàng sờ soạng tìm nến và diêm thì tiếng động tăng lên gấp đôi, gấp ba đến nỗi nghe tưởng chừng như vang dội hết cả căn phòng. Toàn thân Maax run rẩy, mỗi sợi lông trên thân mình như đứng lên nhưng chàng cũng lấy hết can đảm, tay cầm cây đèn cầy và nhẹ nhàng bước tới chiếc rương. Ngón tay kỳ lạ đó trông càng dài ra và gõ liên hồi trên nắp rương. Với nhịp điệu dồn dập, tiếng gõ vang ra hết cả mặt rương, có khi cái móng tay bầm tím đó lại cào mạnh lên mặt gỗ. Khi Maax bước lại gần ngón tay kỳ lạ đó bỗng đứng yên rồi nằm dài theo mép rương. Maax kinh hoàng khi nghĩ rằng ngón tay ma quái đó đã trông thấy chàng nên mới ngừng họat động và ngón tay đó đang nhìn chằm chằm vào chàng.
Và khi Maax đã đứng giữa căn phòng, lạ lùng thay, ngón tay đó giơ lên và hình như đang ra dấu hiệu cho chàng lại gần hơn. Maax quá kinh sợ khi nhớ lại cơn ác mộng chàng vừa trải qua. Lúc này chính chàng không chịu đựng nỗi sự sợ hãi đó nữa. Chàng vẫn bước tới trước, cử chỉ, hành động, giống như một người mắc bệnh mộng du. Sáng hôm sau, hai người phu đổ rác bước theo chủ nhà của Maax vào phòng chàng. Maax đã rời khỏi phòng từ lúc nào, có lẽ chàng đi làm việc, nhưng hai người phu đổ rác đã biết rõ công việc của họ sẽ phải làm. Chiếc rương được khóa kỹ vẫn nằm ở góc phòng, không có chìa khóa nằm trong ổ khóa. Bên cạnh rương, người ta thấy dấu vết một cây đèn cầy đã cháy rụi. Người chủ nhà tỏ ý không hài lòng. Bà ta lên giọng tỏ ra bực bội:
- Đấy! Hành động đó chỉ nhằm đốt nhà người ta. Tôi sẽ nói cho ông Maax biết về sự sơ suất đó. Quả thật đáng trách! Hai người phu đổ rác đang hì hục khiêng chiếc rương, không để ý đến lời nói của bà chủ nhà. Một người than:
- Bộ cái rương này bằng chì hay sao? Từ trước đến nay, tôi chưa bao giờ khiêng một cái rương trống mà nặng như thế này! Bà chủ nhà nói dặn thêm:
- Ấy cái rương này được đóng bằng loại gỗ rất chắc... Khi chiếc xe chạy tới ven đô, đúng nơi vứt bỏ những đồ phế thải, một người phu nói:
- Tôi không hiểu vì sao cái thằng cha này lại đem bỏ đi một cái rương trông đẹp như thế này! Bạn của anh ta trả lời:
- Tôi thì biết rõ đầu đuôi sự việc. Chẳng là anh chàng mua cái rương này của Jason Kinkle mà Kinkle thì chẳng bao giờ kể rõ lai lịch cái rương cho chàng ta biết... Vì lẽ đó, mà chàng ta không muốn giữ cái rương này trong căn phòng của chàng nữa.
- Nhưng lai lịch cái rương đó ra sao? Anh có biết không? Anh phu đổ rác tự cho mình biết rõ câu chuyện không thèm trả lời cho bạn ngay lúc đó, nhưng khi cái rương đã được đẩy xuống đất chàng mới chậm rãi:
- Cái rương này được đem bán ở tiệm bán đồ cũ. Người chủ của nó trước tiên là Stubberton... Vừa nói đến đây, người phu đổ rác thứ hai cướp lời:
- Stubberton! Có phải anh chàng bị giết chết bằng cách bỏ...
- Phải rồi! Bằng cách bị đem nhốt vào rương. Đúng vậy! Chính cái rương mà chúng ta vừa mới chở trên xe đó! Cả hai im lặng một hồi lâu. Họ tiếp tục tìm cách xê dịch cái rương lại gần một cái giếng không còn dùng nữa, thành giếng đã bể nát, đáy giếng chứa đầy một thứ nước bẩn. Người phu đổ rác đưa tay lau mồ hôi đổ giọt trên trán, đoạn tiếp lời:
- Lúc người ta cạy cái rương ra thì xác nạn nhân trông đen, xám xịt lại. Người ta thấy một ngón tay mắc kẹt ở nắp rương, gần nơi ổ khóa -nhưng ngón tay ấy cũng không cứu được mạng sống của nạn nhân. Nghe bạn kể câu chuyện ma quái đó, người phu đổ rác thứ hai tỏ ra sợ hãi, nói lớn:
- Thôi, phải thủ tiêu nó gấp, cái thứ này chỉ mang xui xẻo đến cho chúng ta mà thôi! Người kia đáp nhanh:
- Đồng ý! Giúp tôi một tay mau lên! Hai người lấy hết sức lực đẩy rương xuống đáy giếng. Cái rương trong phút chốc rơi xuống mặt nước đen xì làm tung một ngọn nước lên cao gần miệng giếng... Một người lên tiếng:
- Thế là yên chuyện! Chúng ta lại được thêm mười dollar. Nhưng rồi... một sự việc lạ lùng xảy ra. Hai người phu đổ rác không bao giờ hy vọng nhận thêm số tiền mười dollar đó nữa vì kể từ ngày hôm đó, Maax bỗng biệt tích, không ai gặp chàng mà cũng không có ai nhắc đến tên chàng nữa. Hai người phu đổ rác trình nội vụ tại cảnh sát cục. Bà chủ nhà không biết tên hai người phu đổ rác, hơn nữa, bà cũng không hay biết gì thêm tin tức Maax nên bà cũng chẳng giúp ích gì được cho hai người. Về sau, cảnh sát chỉ biết trả lời một cách lờ mờ về trường hợp của Maax. Họ nói có lẽ anh chàng đã đổi tên và đổi chỗ ở |
|
Con điên
(Truyện ngắn của Nguyễn Thành Phong) Cái nắng chói chang chiếu xuống miếng ruộng nước lấp xấp rồi dội ngược trở lại làm chói cả mắt. Một lũ con gái lúi húi xúm xít chui vô lùm tre giành nhau cái ca nước múc lấy múc để mấy giọt nước mát uống nhanh cho đỡ khát. Ngoài trời, hãy còn đó một thửa ruộng chưa kịp cấy xong. Bọn con gái cởi nón lá quạt sành sạch, mồ hôi nhễ nhãi chảy dài trên má, từ dưới bàn chân leo lên đến đầu gối sình bùn dính lem luốc bám lấy đôi chân trần trắng toát thay cho cái ống quần vo lên tới đầu gối. Con Thương đang uống ừng ực cái ca nước lạnh chưa hết thì nó nghe má nó gọi. “Thương ơi dzô đây má nói nầy nghe nè!” cả lũ con gái sình bùn nhao nhao xô lấn chạy dzô xem coi má con Thương nói cái gì. Bỏ mặc cho mảnh ruộng vẫn còn đôi hàng lúa đang cấy dang dở. “Hí hí tao xí được chạy trước.” Lũ con gái giành nhau mà chạy ưỡn mình qua ưỡn mình lại, không phải vì lũ nó đang làm dáng làm điệu gì, mà bởi cái bờ ruộng nó mỏng quá, chạy không khéo là té ụp mặt xuống sình. Chúng chạy nối đuôi nhau như mấy trò biểu diễn của các nghệ sĩ đi trên dây lấy thăng bằng. Cả lũ dừng lại trước lùm tre che chắn trước lối dzô nhà, không đứa nào hé miệng nói gì, chúng quan sát ngôi nhà của con Thương, còn con Thương thì ngồi xuống dõi mắt dòm dzô coi. Cả lũ con gái tuổi mơn mởn vừa con nít vừa người lớn nầy lúp la lúp ló ngó dòm, nó ngó dzô ngôi nhà mà không đứa nào dám dzô trước. Trước sân xe cúp, xe dream dựng láng linh bừa bãi, chắc là nhà có khách lạ rồi. Con gái mình mẫy dính sình đất lem luốc lại càng e ngại đi đứng trước mặt kẻ lạ. Má con Thương bước ra khỏi cái cửa giữa, ngoắc lấy bọn con gái dzô làm lũ chúng tản ra như tổ ong. “Thương ơi Dzô má biểu nè.” Má nó gọi nó, làm một dọc con gái nối đôi dzô coi chuyện gì, trước mặt bọn con gái là một nhóm người ăn mặc sang trọng, trong đó nổi rỏ nhứt là một phụ nữ mập tròn căng da, mắt hơi heo một chút, hai gò má đánh phấn trắng phếu, môi đỏ ao, ăn ăn nói nói, lời ăn tiếng nói nghe rất ngọt ngào. Bà quay nhìn kỹ bé Thương từ đầu đến đít, rồi nói với má “nó con gái của bà đẹp quá, chân lấm tay bùn như vầy uổng quá, thôi nghe lời tui cho đời bớt khổ, qua bển rồi bà sẽ thấy.” *** Sau cái ngày đó, con Thương dường như ít nói bởi bước ngoặc cuộc đời bắt đầu thay đổi nhiều. Người ta làm mai làm mối cho má của Thương để gả bé Thương cho một ông chồng Đài Loan. Đổi đời. Bé Thương nhiều lần khóc lấy một mình. Nó mới 18 tuổi, chưa tròn, chưa hiểu được thân xác mình là con nít hay là con gái lớn khôn. Chỉ biết rằng sau những giờ tan học là Thương về nhà phụ má làm mấy công việc đồng án, hôm thì lúa, hôm thì khoai đậu, và hôm thì mò ốc bắt cua trên vùng ruộng lúa hiền hòa của miền đất Long An. Thương đã từng sống bên mẹ một mình, bởi Ba của Thương đã khuất khi Thương vừa tròn bốn tháng còn nằm trong bụng mẹ… *** Hôm nay, tại nhà hàng Sinh Đôi quận 10 Sài Gòn, đòan người kéo nhau dự tiệc cưới của cô gái miền quê tên Thương và chàng rể tên Kim người Đài Loan. Đám cưới của bé Thương là đám cưới lớn nhứt làng bởi bên đàn gái có ai đâu nên gia đình mời hết xóm giềng đi dự một thể cho dzui. Bên đàn trai cũng không vừa họ mời tòan là những nhân vật đâu đâu xì xào tiếng Đài không ai hiểu, và bé Thương đã đi lấy chồng xa từ dạo đó…. *** Chiếc máy bay của quốc gia hàng không Việtnam cất cánh khỏi vùng trời Tân Sơn Nhất hướng đến nơi xa xôi: Đài Loan. Không ngờ lần đó lại là lần tiễn chân vĩnh viễn người con gái tên Thương. Nhóm con gái cấy lúa đi chân đất thiệt thà, lũ bạn của Thương ngày nào, giờ đây đã khóc ráo nước mắt trước cảnh ‘về nhà chồng’ của người bạn gái quê mùa hiền lành của họ. *** Nhiều tháng trời ròng rã trôi qua, người mẹ bật tin con, cô con gái duy nhứt, rứt ruột của lòng mình, đã ra đi về nhà chồng, bà mòn mỏi đợi tin con từ Đài loan từ cái ngày ấy cho đến nay.. Người đàn bà góa bụa, buồn không siết, nổi đau trước đây là cảnh mất chồng, nổi đau đó chưa bình phục thì cảnh mất con tiếp theo. Nhiều đêm bà tự trách phận một mình là vì sao bà lại nhẹ dạ đến như vậy, vì sao bà lại quyết định một cách vội vã như vậy, vì sao khi yêu, bà được yêu lấy người con trai mà bà hòan tòan được quyền chọn lựa, đó là ba của bé Thương người chồng của bà, bà chọn chồng là do tình yêu thật của bà đã nẩy nở. Nay sao bà đành đọan cướp lấy quyền yêu của con gái mình như vậy, nhẫn tâm quá!, bà tự trách móc mình trước bàn thờ chồng. nhiều lần bà đốt nhang trước ảnh người chồng quá cố để xin lỗi ông mà tha thứ cho bà vì bà đã quyết định mọi sự nên mới sinh ra sự thể thế nầy cho con. *** Vào một đêm lúc bà đang ngủ, một ông hàng xóm gõ cửa nhà, ông ấy vừa mừng vừa run vừa kêu .. “Bà Bẩy ơi, con Thương, con Thương … con bà, nó gọi dzìa nè” Người đàn bà dường như sống lại, bà bỏ chạy qua nhà ông hàng xóm để nghe điện thoại, mặc cho cánh cửa nhà vẫn còn mở. Từ đầu dây bên kia bà nghe rỏ mồn một tiếng con gái của bà: bé Thương. Nó nức nở khóc “má ơi khổ quá má ơi, con bị làm đĩ rồi, ông Kim đã bán con cho họ rồi sau mấy đêm làm vợ của ổng. Khổ quá má ơi.” Nó thút thít vừa khóc vừa nói.. “Hiện con đã thoát khỏi chổ nầy rồi, con được một người đàn ông cứu giúp con.” *** Người đàn bà góa bụa như trên trời rớt xuống đất, khi tiếng nói của đứa con bị đứt quãng rồi tắt hẳn. Bà quỵ xuống trong đêm. Ông Ba hàng xóm nổi đèn nổi đóm gọi nhau ôm sòm, ông kêu mọi người trong xóm thức dậy phụ ông đỡ lấy người đàn bà đau yếu nầy, dìu nhau về nhà đánh dầu lưng, cạo gió cho bà. *** Hai hôm sau, cũng vào lúc nửa đêm ông Ba hàng xóm lại gọi tiếp cho bà, và lần nầy ông kêu thêm một số người khác đến nghe bé Thương nói chuyện. Từ đầu dây bên kia bé Thương nói vắn tắt với má của nó. “Má ơi con đã trả hết nợ cho chủ chứa rồi, hai ngày nữa con về tới nhà má nhớ rước con về nhe má.” Đó là tất cả những gì hàng xóm nghe được, họ mừng dzô cùng. Người đàn bà, má của bé Thương như tìm lại cảnh đời bị đánh mất. Bà vui dzô cùng. Hết cả xóm đêm hôm đó không ai ngủ được. Họ mừng. *** Hơn ba tháng trời trôi qua từ ngày Thương trở về, dường như nó không còn bình thường được nữa. Có thể nó sợ, sợ quá vì cái chốn tội lỗi kia. Ngày nào nó cũng tiếp tòan là những thứ đàn ông bệnh họan. Tòan là những thứ cuộc đời làm con gái chưa hề một lần dám nghĩ đến. Nó bỏ ăn, bỏ ngủ, dì Bẩy lúc nào cũng tất bật vì con. Bà dường như không hề tỏ ra bực bội nào, dường như trong chuyện nầy bà muốn nói rằng “lỗi tại má mà ra” bà làm hết mọi sự để chuộc lấy sai lầm của mình. Bé thương mỗi lúc một lẩn, dường như những mãng ngày đau đớn về mặt thể xác lẫn tâm hồn kia đã trở thành một căn bệnh trong thân xác và ý tưởng của nó, tất cả trở thành một căn bệnh thiệt rồi, và nay căn bệnh kia đã di căn và biến bé Thương thành …. con điên, một người đàn bà điên lọan thật rồi!. *** Ngày nào nó cũng chửi, chửi vu vơ làm cho hàng xóm không ai ngon giấc được với nó. Khi nó tỉnh, nó vẫn phụ má nó lặt rau, nấu cơm, làm cá bình thường. Có lần nớ lại cảnh xưa, nó hỏi má nó “má ơi đám ruộng kia cấy xong chưa hả má?”, câu hỏi ngây dại đã làm cho bà đau xót vô cùng…Có lẽ, miếng ruộng hãy còn dang dở kia cũng đồng nghĩa với tuổi đời con gái mới lớn, hãy còn dang dở ..con của bà, và bà đã khóc. Nhưng khi nó lên cơn dại mọi sự trước mặt nó là con số không, không còn biết, không còn nghe , không còn nói ra những lời nói nào phải, tất cả đều không. Ban đêm nó ngồi viết viết cái gì đó trong buồng riêng của nó, viết rồi lại cất. cất rồi lại lấy ra viết tiếp. *** Hai năm trôi qua, người đàn bà bán lần, bán lần các thửa ruộng để chữa bệnh cho con, bác sĩ Thái gần bịnh viện Chợ rẫy nói rằng nếu gia đình duy trì đầy đủ liều thuốc cho nó uống theo toa thì sẽ hết thôi. Khổ thay có bữa thì bé Thương uống có bữa thì không. Nó đã điên thật rồi còn gì. Mảnh ruộng nhà càng lúc càng nhỏ lại dần vì má của Thương bán đi mà chạy thuốc và chạy ăn. … Và … hôm đó là ngày tàn của người phụ nữ bởi chiếc tủ thờ, một báu vật duy nhứt của bà cũng phải ra đi… *** Hôm nay, hai mẹ con, một người mẹ tìu tụy và đứa con điên lọan đã dọn nhà về An Điền Bến Cát để sống những ngày còn lại. Bà đã tá túc với ông anh một người đàn ông cao tuổi, một thương phế binh ngày trước, ông chỉ còn lại một chân, sống một mình. Ông anh thứ ba của bà sống độc thân, trên một mảnh ruộng trũng với hai con bò. Ông nghèo nhưng nghĩ rằng thôi “lá rách đùm lá nát, biết nói sao.” *** An điền, nơi đây cuộc sống miền quê yên tĩnh ít nhiều đã làm vơi đi cơn khùng cơn dại của bé Thương, nó bớt chửi, nhưng đêm đêm lại thức khuya nó ngồi vẽ vẽ viết viết cái gì đó trong quyển nhựt ký ngoằn ngèo bậy bạ của cái thế giới và ngôn ngữ của kẻ điên, không ai biết nó viết gì ngoài hai chữ “nó điên”. *** Ba đêm qua là ba đêm mất ngủ của hai anh em già ở vùng quê hẻo lánh nầy, và đêm nay là đêm bình yên nhứt của họ, bởi bé Thương ngủ ngon giấc. Sáng sớm khi trời đất còn nhá nhem, cũng là lúc nồi cháo trắng được nấu chín, má của bé Thương rón rén vào buồng của cô con gái mình, bà đi nhè nhẹ, vén màng dòm dzô xem đứa con gái của bà đang ngon giấc, bà mừng lắm, trong lúc bà nở một nụ cười hiền hậu trên khuôn mặt khắc khổ thì dưới chân bà một đàn kiến đất đeo cắn lấy cắn để, bà giũ lia giũ lịa, đàn kiến kia đang nối đuôi nhau chui vô mùng bé Thương, bà nhìn kỹ và trước mặt bà bé Thương đã …. chết từ lúc nửa đêm qua. *** Gần một tuần lễ trôi qua, mẹ bé Thương và người anh của bà phần thì buồn bả , phần thì mệt mỏi vì phải lo đám tang và hậu sự. Hôm nay, trong lúc dọn dẹp cái bàn thờ Phật bên trong buồng của bé Thương, một cái gì đó rơi xuống đất. Cuối người xuống lượm lên, bà nhìn ra đây chính là cuốn nhựt ký cuộc đời của con gái bà, cô con gái miền quê tên Nguyễn Thị Nhớ Thương, mà chồng bà đã đặt lúc còn trong bụng của bà. Bà lật ra từng trang từng trang đầu tất cả đều ngoạt ngoẹt, nhưng rồi có đọan bà thấy có nhiều nét chữ đọc được… “ má ơi, con là Nguyễn Thị Nhớ Thương nè, con của má đó, con bị bịnh quá má ơi. Con được một người đàn ông giả dạng khách làng chơi cứu con sống. Ông ấy tốt. Con bị bịnh Siđa rồi. Con có để dành 100 nhân dân tệ cho má, tiền của người đàn ông cứu thoát con, con để dưới cái gối nầy, nhe má!…” *** Mấy dòng chữ vừa dứt đọan, trước mắt người đàn bà, mẹ bé Thương, một màu đen kịt đã phủ xuống trước mặt, hai bàn tay gầy guộc của người đàn bà giơ ra tìm cái gì đó, tìm cái gì đó, để bám víu trước mặt, lay hoay rồi người đàn bà ngã quỵ./. NguyễnThànhPhong | |
|